Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
ThS. Nguyễn Thành Phương
Trưởng khoa Lý luận cơ sở
Ngày 05/6/1911, cách đây đã tròn 110 năm, tại bến cảng Nhà Rồng, Anh Ba (Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã xuống con tàu mang tên Đô đốc Latouche-Tréville làm phụ bếp nhằm thực hiện chuyến ra đi về phương Tây tìm con đường cứu dân, cứu nước, một con đường mới chưa được khám phá.
Đến một nền văn minh mới khác với văn minh phương Đông, sang tận nơi có cái gọi là “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mà người Pháp thực dân đang tuyên truyền nhằm mục đích để tìm hiểu ngọn nguồn của chế độ thực dân đô hộ dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là để học hỏi tinh hoa thế giới, sau này về giúp cho đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, hạnh phúc. Đó là một đột phá mới trong tư duy chính trị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc so với các nhà yêu nước lúc bấy giờ.
1. “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, một trong những động lực cơ bản đã giúp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu dân, cứu nước.
- Khác với các nhà yêu nước khác, với những xu hướng, con đường cứu nước khác nhau, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sang ngay nước Pháp tìm sự thật ẩn náu phía sau của khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của cách mạng tư sản Pháp đó là nhãn quan chính trị vượt thời đại của Bác vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước những năm đầu thế kỷ XX.
- Bản chất thực của khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc kiểm nghiệm qua các cuộc cách mạng tư sản và tại Việt Nam với tư cách là một nước thuộc địa của thực dân Pháp.
Khảo nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách mạng tư sản Pháp (1789), Người rút ra nhận xét: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Bởi vậy: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”.
Đi nhiều nơi, làm nhiều việc, tiếp xúc nhiều đối tượng đã giúp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổng kết thực tiễn hình thành, phát triển nhãn quan chính trị vượt thời đại của Người về giai cấp vô sản: Vô sản là tất cả người lao động đoàn kết lại, “Vàng đen trắng đỏ đều là anh em”, khác màu da, khác tiếng nói nhưng có cùng chung một số phận và cảnh ngộ là bị đế quốc thực dân đô hộ, khao khát giải phóng giai cấp và nhân loại. Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản. Đó là khát vọng lớn của Bác. Có thể khẳng định đây cũng chính là cơ sở lý luận về sự nghiệp quốc tế của Người.
- Chính khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” một trong những động lực cơ bản đã giúp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu dân, cứu nước.
Đi theo con đường của V.I.Lênin, của Cách mạng tháng mười Nga 1917 thì mới giải phóng dân tộc thực sự và mới có “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” thực sự: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”.
Chọn lựa chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết cách mạng nhất và chủ nghĩa chân chính nhất nhằm giải phóng dân tộc và khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức, “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mới là hiện thực.
Tháng 7-1920, đọc được Luận cương của V.I.Lênin về Vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc, vui mừng đến phát khóc: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta. Người đã tìm đến chủ nghĩa Mác-Lênin: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, t.2, tr.268]. Đó là nhãn quan chính trị vượt thời đại của Bác vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước những năm đầu thế kỷ XX.
- Hiện thực hóa khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” bằng việc xác định con đường cách mạng Việt Nam
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi áp bức nô lệ: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin.… Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”[Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 10, tr. 128]. “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đó chính là: Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản tức là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là lối tư duy độc lập, sáng tạo của Bác trong quá trình tìm đường cứu nước, cứu dân.
2. Chỉ có chủ nghĩa xã hội “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mới là một chân lý của thời đại.
- Khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” chính là khát vọng của các dân tộc thuộc địa mà Việt Nam là một điển hình cụ thể. Trong Tuyên ngôn độc lập 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng cao đẹp, cháy bỏng ấy: Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
- Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
- Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. Nói như Bác đã tóm lược: Chính trị chuyên chế; kinh tế độc quyền; văn hóa ngu dân để dễ cai trị. Cho nên toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam được Bác khẳng định trong tuyên ngôn một cách hết sức ngắn gọn: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” đã hiện thực hóa.
- “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” là khẩu hiệu mị dân của giai cấp tư sản ở mọi thời đại ngay cả khi nó mới ra đời với tư cách là thành quả của cuộc cách mạng tư sản. Khảo nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Mỹ (1776) và Cách mạng tư sản Pháp (1789), Người rút ra nhận xét: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Bởi vậy: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”. Trong Tuyên ngôn độc lập 02/9/1945, Bác khẳng định:
Hỡi đồng bào cả nước,
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Bác đã mượn những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 nhằm chứng minh đó là những trò lừa bịp không thể phủ nhân được.
- Chỉ có chủ nghĩa xã hội “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” là hiện thực. Nếu như nhà cách mạng Tôn Trung Sơn cho rằng mục đích cuối cùng của cách mạng là làm cho Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc thì Bác đã cụ thể hóa thành tiêu ngữ của quốc gia Độc lập – Tự do – Hạnh phúc; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình cách mạng Việt Nam, nhu cầu và khát vọng không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn là xu hướng phát tiển và là chân lý của mọi thời đại, là quá trình hiện thực hóa khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” đúng với nghĩa đích thực của nó.
Chân lý không có gì quý hơn độc lập, tự do của Bác chính là nhu cầu và khát vọng hiện thực hóa khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” mang tầm vóc và ý nghĩa thời đại hết sức sâu sắc không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột, cho loài người tiến bộ trên thế giới.
- Thời đại ngày nay khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” là một chân lý. Kể từ khi bản Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 ra đời cho đến nay Độc lập – Tự do – Hạnh phúc; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính là quá trình hiện thực hóa khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” đúng với nghĩa đích thực của nó.
Năm 2021, năm có nhiều sự kiện lịch sử in đậm dấu ấn trọng đại của dân tộc. Đại hội XIII khẳng định: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá.
Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là mục đích duy nhất của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam mà còn là chân lý phổ biến cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột, cho loài người tiến bộ trên thế giới với tư cách là phương pháp luận khoa học hướng tới “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” đúng với nghĩa đích thực của nó./.
CN. Nguyễn Phước Bình
Viên chức Phòng QLĐT&NCKH
Cách đây 110 năm, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra nước ngoài tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân phong kiến. Cuộc hành trình ấy là bài học lớn cho thanh niên ngày nay, để mỗi người trẻ thể hiện tình cảm, tâm huyết của mình, đóng góp trí tuệ, tài năng xây dựng quê hương đất nước “sánh ngang với các cường quốc năm châu” như tâm nguyện của Người lúc sinh thời.
Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, trên quê hương Nghệ An giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, lại lớn lên trong cảnh nước mất, nhà tan nên Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành đã sớm có tinh thần yêu nước, thương dân, có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Trong bối cảnh các phong trào đấu tranh, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi với nhiều khuynh hướng khác nhau nhưng đều bị thất bại, chính điều đó đã đặt ra câu hỏi lớn: Cách mạng Việt Nam cần phải có lực lượng lãnh đạo?, đường lối cách mạng?, con đường và phương pháp đấu tranh phù hợp?. Trách nhiệm tìm đáp án cho câu hỏi lớn ấy đặt lên vai những người trẻ thời ấy như Nguyễn Tất Thành. Và quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh độc lập và tư duy sáng tạo của người thanh niên yêu nước.
Khi Phan Bội Châu quyết định sang Nhật Bản với mục đích kiều viện đã gặp cụ Nguyễn Sinh Sắc trên dòng sông Lam và nói chuyện đưa Nguyễn Ái Quốc, lúc đó là Nguyễn Sinh Cung sang Nhật để theo Đông Du, nhưng Nguyễn Ái Quốc không đồng tình. Đó có thể nói là cảm nhận, quyết định hết sức sáng suốt của Nguyễn Ái Quốc trong việc lựa chọn sang phương Tây tìm đường cứu nước. Mong muốn của Nguyễn Ái Quốc là tự do, bình đẳng, bác ái và quyết định sang phương Tây để tìm những ẩn náu sau những từ hoa mỹ đó, nhưng đồng thời để kiểm nghiệm thực tiễn xem nước Pháp và các nước khác đã làm gì để cứu được mình. Đó là động lực khiến Nguyễn Ái Quốc đã từ chối Đông Du mà tự quyết định sang phương Tây tìm chân lý.
Tròn 21 tuổi, với lòng nhiệt thành của tuổi trẻ và hành trang là dòng máu nóng sục sôi lòng yêu quê hương đất nước, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường chân lý. Để làm được điều đó phải có lòng quyết tâm mạnh mẽ, dám nghĩ dám làm, dám dấn thân, nhất là trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Đến nước nào, Người cũng làm việc để kiếm sống và hoạt động. Đi đến đâu, Người cũng tự nghiên cứu, tự học. Cả cuộc đời Người là bài học về sự tu dưỡng, rèn luyện, coi cuộc sống là bài học sống động cho mình, coi khó khăn là “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, tất cả chỉ vì một mục tiêu lý tưởng là giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào. Điều đó được thể hiện qua câu nói nổi tiếng: “Tôi ra nước ngoài để xem họ làm thế nào để về cứu giúp đồng bào mình”. Người đã không đi theo con đường cứu nước của thế hệ cha ông mà tìm con đường cứu nước đúng đắn, giành thắng lợi cho nhân dân thoát khỏi cảnh áp bức, tù đày, hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, đưa nhân dân lầm than thành người chủ đất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trọn đời cống hiến cho đất nước, dân tộc. Điều này đòi hỏi trách nhiệm đưa Việt Nam trở thành nước giàu mạnh, sánh ngang với các cường quốc trên thế giới, tất cả phụ thuộc vào tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân của thế hệ trẻ hôm nay.
Đất nước đã hòa bình, độc lập, tự chủ và ngày càng có vị thế cao trong khu vực và thế giới, nhưng khát vọng đưa Việt Nam sánh ngang với các cường quốc năm châu vẫn luôn là niềm thôi thúc bao lớp thanh niên hôm nay tiếp tục học tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng. Trong hành trình đưa đất nước tiến lên, tinh thần độc lập tự chủ, bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là bài học quý báu để thế hệ trẻ hôm nay vững vàng niềm tin trong hành trình lập thân, lập nghiệp.
Đối với tuổi trẻ của Trường Chính trị Bến Tre – những người được kỳ vọng được đặt niềm tin là thế hệ tiếp nối, kế thừa sự nghiệp vẻ vang giảng dạy lý luận chính trị hơn 74 năm của nhà trường trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ của tỉnh nhà, “trọng trách tương lai ấy” đòi hỏi mỗi cá nhân phải có lý tưởng trong sáng, có hoài bảo, dám nghĩ, dám làm, dám dân thân. Do vậy, trong thời gian tới mỗi người trẻ cần phải:
Một là, phải học tập tinh thần, lý tưởng và khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người trẻ phải dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám dấn thân, dám chịu trách nhiệm. Bởi lẽ, một trong nhiều điều kiện để trở thành một giảng viên trường chính trị cần phải có sự trải nghiệm, vốn thực tiễn phong phú và thực tiễn không tự nhiên có mà phải qua trải nghiệm, tích lũy và tự rút ra cho mình.
Hai là, phải đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân, mỗi cá nhân sẽ không thể thành công nếu đứng ngoài tập thể và tập thể không thể tồn tại “chủ nghĩa cá nhân”, sự đố kỵ, bảo thủ. Sự nghiệp vẻ vang của trường hơn 74 năm quathế hệ giảng viên, viên chức của trường. Do đó, mỗi người trẻ cần phải thật sự đoàn kết với nhau vì mục tiêu, vì lý tưởng chung, góp phần xây dựng thành công Trường Chính trị chuẩn.
Ba là, không tự mãn về bản thân, phải luôn rèn luyện tinh thần tự học, tự phấn đấu với tinh thần tâm trong, trí sáng, hoài bảo lớn. Trở thành giảng viên trường chính trị là quá trình phấn đấu bền bỉ rất dài, gian khổ, thực tiễn luôn vận động, kiến thức luôn được cập nhật nếu rơi vào tự mãn về bản thân là tự đào thải chính mình. Tự học để nâng cao kiến thức, hoàn thiện nhân cách bản thân để có đủ “sức đề kháng” và chủ động góp sức trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực phản động.
Để xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, còn phải vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đòi hỏi tuổi trẻ phải phát huy tốt vai trò xung kích, ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; có được nghị lực và ý chí quyết tâm, không ngừng nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, để “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”; hoàn thành xuất sắc sứ mệnh vẻ vang của tuổi trẻ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
ThS. Nguyễn Thành Phương
Trưởng khoa Lý luận cơ sở
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, cả cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người là tấm gương mẫu mực về nhãn quan chính trị vượt thời đại và lối tư duy độc lập, sáng tạo của Người trong quá trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Đồng thời bằng lối tư duy độc lập, sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ và hoạt động thực tiễn của mình, Bác đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam những đóng góp mang tầm vóc thời đại.
1. Nhãn quan chính trị của Bác vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước cùng thời những năm đầu thế kỷ XX.
Chủ nghĩa yêu nước chân chính cùng với ý chí bất khuất và bản lĩnh trí tuệ vượt thời đại cùng những thất bại của các xu hướng cứu nước lúc bấy giờ chính là động lực trực tiếp để Bác ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, hình thành cho mình nhãn quan chính trị vượt thời đại vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước cùng thời những năm đầu thế kỷ XX.
Đi nhiều nơi, làm nhiều việc, tiếp xúc nhiều đối tượng đã giúp Bác tổng kết thực tiễn hình thành, phát triển nhãn quan chính trị vượt thời đại của Người.
Đi sang ngay nước Pháp tìm đến thực chất của khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản Pháp đó là nhãn quan chính trị vượt thời đại của Bác vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước những năm đầu thế kỷ XX.
Khảo nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Mỹ (1776) và cách mạng tư sản Pháp (1789), Người rút ra nhận xét:“Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Bởi vậy: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”.(Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, HN, 2002, tập 9, tr 314)
Đi theo con đường của V.I.Lênin, của cách mạng tháng mười Nga 1917 thì mới giải phóng dân tộc: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr. 304)
Chọn lựa chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết cách mạng nhất và chân chính nhất nhằm giải phóng dân tộc, khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức, đó là nhãn quan chính trị vượt thời đại của Bác vượt qua tầm nhìn của các nhà yêu nước những năm đầu thế kỷ XX.
2. Lối tư duy độc lập, sáng tạo của Bác trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.
Bằng lối tư duy độc lập, sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ và hoạt động thực tiễn của mình, Bác đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam những đóng góp mang tầm vóc thời đại
- Chủ trì thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một lối tư duy độc lập, sáng tạo của Bác. Sau khi tìm được con đường đúng đắn để cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã tập trung mọi nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những tiền đề cơ bản về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam.
Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930, tại Hương Cảng, Hồng Kông, Trung Quốc diễn ra Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế cộng sản chủ trì. Tại Hội nghị đã thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh chính trị tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.1, 3, 539). Đó chính là mục đích chiến lược của con đường cách mạng Việt Nam mà cả thế kỷ XX và ngày nay Đảng, Nhân dân ta luôn trung thành và kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới được giữ vững, nhân dân lao động mới được giải phóng thực sự. Đó cũng chính là chân lý thời đại mà cách đây 101 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hội được ở chủ nghĩa Mác-Lênin trên hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân của mình.
- Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, Người đã vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam với lối tư duy độc lập, sáng tạo.
Trước hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
Hai là, Người đã vận dụng và phát triển một cách sáng tạo lý luận về cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc đề ra đường lối của cách mạng Việt Nam. Năm 1959, Người đã khái quát: Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, Bác đã vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng liên minh công - nông của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn tình hình của cách mạng Việt Nam.
Bốn là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về thời cơ và tình thế cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin vào tình hình cách mạng Việt Nam.
Năm là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển một cách sáng tạo quan điểm về vai trò quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác-Lênin vào tình hình cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam mà trọng tâm chính là khối đại đoàn kết dân tộc với khẩu hiệu: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công đại thành công. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.119).
Sáu là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.10).
Bảy là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về vấn đề xây dựng đảng cầm quyền của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.( Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, trang 497)
Tám là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về nhà nước vô sản vào tình hình cách mạng Việt Nam, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Chín là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo công tác vận động quần chúng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dân vận là gì?; Ai phụ trách dân vận?; Dân vận phải thế nào?. Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công. Muốn vậy cán bộ làm công tác dân vận phải: Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm.
- Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam, Người đã vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam với lối tư duy độc lập, sáng tạo.
Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển một cách sáng tạo lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin về thời kỳ quá độ đi lên CNXH vào miền Bắc sau 1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Phải tạo ra những điều kiện cần và đủ về cơ sở vật chất; đồng thời, Đảng phải lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,... tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài. (Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8. Nxb Chính trị quốc gia. H, 2011. Tr.329)
Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng về vấn đề dân chủ của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc thực hành dân chủ ở Việt Nam. Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đên Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.t6, tr.515)
Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về vấn đề tôn giáo của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc giải quyết tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Người đã viết: Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân . Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê su, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, cho xã hội. Nếu nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy. Người chủ trương Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết. (Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 325)
Bốn là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo quan điểm lý luận về vấn đề gia đình của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc xây dựng gia đình ở Việt Nam. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận Dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình tháng 01-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình.
Năm là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo lý luận về vấn đề con người XHCN của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc xây dựng con người mới XHCN làm động lực xây dựng CNXH ở Việt Nam. Tháng 8-1961, nói chuyện với Hội nghị bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo các cấp toàn miền Bắc nhằm quán triệt nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ III, Người đã đưa ra một luận điểm quan trọng và khẳng định: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa.
Sáu là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo quan điểm về vấn đề văn hóa XHCN của chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Bảy là, từ thực tế tình hình cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo những giá trị lý luận và thực tiễn về đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin và đề ra những chuẩn mực về đạo đức cách mạng của người cộng sản. Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr.292.)
Người đưa ra bốn chuẩn mực đạo đức: Trung với nước hiếu với dân; Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; Tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung và ba nguyên tắc rèn luyện: Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức. Xây đi đôi với chống. Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.
- Những sáng tạo của Bác đã cống hiến cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, cho hệ thống xã hội chủ nghĩa và các Đảng anh em trong quan hệ quốc tế đã minh chúng cho lối tư duy độc lập, sáng tạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo tinh thần quốc tế vô sản của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam. Quan Sơn muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em; Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 10, trang 558)
3. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân ta tiếp tục hiện thực hóa con đường mà Bác đã chọn, khẳng định nhãn quan chính trị vượt thời đại và lối tư duy độc lập, sáng tạo của Người đã phát huy giá trị trong thời đại mới.
Kết thúc thắng lợi vĩ đại của cách mạng giải phóng dân tộc năm 1975, hơn 50 năm phấn đấu thực hiện, điều mong muốn cuối cùng của Bác trong Di chúc giờ đã trở thành hiện thực: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Những thành tựu của công cuộc đổi mới năm 1986 cùng với những thắng lợi của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng của Người được chúng minh trong thời kỳ đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011 của Đảng tiếp tục khẳng định con đường phát triển của dân tộc Việt Nam là đi lên chủ nghĩa xã hội; khẳng định mục tiêu lớn của thời đại là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bởi vì như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Thắng lợi của Đại hội XIII, năm 2021, năm có nhiều sự kiện lịch sử in đậm dấu ấn trọng đại của dân tộc. Đại hội XIII khẳng định: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá.
Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không chỉ là mục đích duy nhất của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam mà còn là chân lý phổ biến cho các dân tộc bị áp bức, bóc lột, cho loài người tiến bộ trên thế giới.
Dự báo tình hình thế giới và đất nước những năm sắp tới nhằm xác định vai trò lãnh đạo trực tiếp của Đảng trong nhiệm kỳ mới.
Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đến năm 2025: Là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.
Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao.
Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Định hướng các chỉ tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 – 2025 về kinh tế, xã hội, môi trường; 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 – 2030; 6 nhiệm vụ trọng tâm; 3 đột phá chiến lược nhiệm kỳ Đại hội XIII lý luận với tư cách soi đường, chỉ đạo cho hành động cải tạo hiện thực trong những năm tới đây nhằm tránh chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.
Tất cả những thành tựu to lớn của dân tộc mang tầm vóc thời đại ấy, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự vận dụng và phát huy sáng tạo nhãn quan chính trị vượt thời đại và lối tư duy độc lập, sáng tạo của Bác trong quá trình tìm đường cứu nước, cứu dân xưa kia giờ đây đã phát huy giá trị trong thời đại mới./.
ThS Phan Văn Thuận – Trưởng Khoa Xây dựng Đảng
Không phải đến bây giờ, mà ngay cả khi mới hình thành, chủ nghĩa Mác-Lênin (trước đây là chủ nghĩa Mác) luôn là “nỗi ám ảnh”, là “cái gai trong mắt” của các thế lực thù địch, phản động. Chúng luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, tấn công, phủ nhận những giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhưng không thể phủ nhận và thay đổi một sự thật hiển nhiên là: Chủ nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các đảng cộng sản và công nhân trong sự nghiệp đấu tranh chống các thế lực áp bức, bóc lột và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong suốt thế kỷ XX đến nay.
Ở nước ta, trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm cách mạng đánh đuổi thực dân, đế quốc và tay sai giành độc lập dân tộc và đang từng bước vững chắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy các thế lực thù địch, phản động rất “cay cú” và luôn tìm cách xuyên tạc, tấn công nền tảng tư tưởng – “vũ khí” sắc bén của Đảng. Mục đích cao nhất, có tính chiến lược của các thế lực thù địch chống phá Đảng ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là nhằm làm cho Đảng và nhân dân ta xa rời, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xa rời, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tức là làm cho cán bộ, đảng viên ta từ bỏ nền tảng tư tưởng - vũ khí tinh thần, từ bỏ thế giới quan, phương pháp luận khoa học, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng dẫn tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực hiện mục đích đó, chúng dùng mọi âm mưu, thủ đoạn, phương thức tinh vi, xảo quyệt thích ứng với mọi tình hình, mọi đối tượng, mọi thời điểm, hoàn cảnh khác nhau. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay với những biến động phức tạp, khó lường của tình hình chính trị, kinh tế, an ninh trên thế giới và sự tác động của thành tựu khoa học – công nghệ, toàn cầu hóa…, nên sự tấn công, chống phá của chúng có nhiều thay đổi với nhiều thủ đoạn, phương thức tinh vi, phức tạp hơn, toàn diện hơn, nhất là lợi dụng những “kỹ thuật” hiện đại của công nghệ thông tin, những “ưu thế” của mạng xã hội. Điều đó khiến “một bộ phận” cán bộ, đảng viên không dễ dàng nhận biết để đấu tranh ngăn chặn, bác bỏ kịp thời, có hiệu quả. Công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng của Đảng vì thế cũng vô cùng phức tạp, quyết liệt hơn. Đặc biệt là vào dịp Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng – cột mốc rất quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và lựa chọn những cán bộ vừa có đức, vừa có tài để lãnh đạo đất nước, mang lại cuộc sống hạnh phúc và phát triển cho nhân dân, cho đất nước. Vì vậy, điều quan trọng hơn hết chúng ta phải có thái độ bình tĩnh, lập trường vững vàng, đồng thời phải nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng để nhận diện và đấu tranh phòng chống quan điểm sai trái, thù địch hiệu quả nhất.
Trước các kỳ đại hội Đảng các cấp, nhất là Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, trên các trang mạng xã hội lại lan truyền nhiều thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc dự thảo văn kiện đại hội Đảng các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc bằng nhiều hình thức khác nhau, như: Soạn thảo các tài liệu mạo danh, nặc danh hoặc công khai đề tên tuổi, địa chỉ cụ thể, sau đó tán phát trên Internet, mạng xã hội dưới chiêu bài: “Thư ngỏ”, “Thư trao đổi”,“Thư góp ý”,“Kiến nghị”… để xuyên tạc tình hình và thành tựu phát triển của đất nước; thổi phồng những khuyết điểm, hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… từ đó, quy kết, đổ lỗi nguyên nhân là do thể chế chính trị nhằm gây sức ép sửa đổi, bổ sung văn kiện Đại hội theo quan điểm phương Tây. Đặc biệt về vấn đề nhân sự luôn là trọng tâm chống phá, đáng lo ngại hơn cả là những thông tin bịa đặt nhằm mục đích bôi nhọ danh dự nhân phẩm, hạ thấp uy tín cá nhân của các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí được quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương. Chúng đưa ra những bài viết, bình luận kiểu như “Việt Nam đã chọn xong người làm Tổng Bí thư”, “Cuộc bỏ phiếu là sự đấu tranh giữa các phe phái trong Đảng”… Gắn liền với đó, chúng chống phá và xuyên tạc công tác cán bộ, cho rằng công tác cán bộ của Đảng ta là không dân chủ, thiếu minh bạch, làm theo kiểu “áo gấm đi đêm”; việc quy hoạch, sắp xếp cán bộ là để “thanh trừng bè phái”, “đấu đá nội bộ”… nhằm phá hoại an ninh chính trị nội bộ, phá hoại sự kiện chính trị - xã hội quan trọng nhất của đất nước. Những thủ đoạn này không phải là mới nhưng càng gần đến Đại hội Đảng thì tần suất, tỉ lệ lớn hơn nhiều và cũng ngày càng tinh vi, người đọc người xem nếu không đủ tỉnh táo, thiếu kinh nghiệm thì rất dễ bị lừa trước những thông tin suy diễn, bịa đặt tình hình trong nước, xuyên tạc về tình hình sức khỏe của lãnh đạo cấp cao, moi móc, thêu dệt bí mật đời tư, bôi nhọ danh dự, đạo đức, lối sống, hạ thấp công trạng của các lãnh đạo cho đến việc xuyên tạc tình trạng mâu thuẫn trong nội bộ. Đặc biệt là qua kết quả của đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước, chúng dựng lên các câu chuyện về “phe cánh”, “đấu đá” nhằm chia rẽ nội bộ. Rõ ràng đây chính là hành động “đâm bị thóc, chọc bị gạo” với động cơ, mục đích rõ ràng là rất đen tối, rất nguy hiểm và thâm độc.
Đáng quan ngại hơn là, có cả một số cán bộ, đảng viên tin vào những thông tin xuyên tạc này, thậm chí bàn tán, rỉ tai nhau, gây nghi kị lẫn nhau trong tổ chức làm chia rẽ nội bộ và từ đó gây hoang mang, mất niềm tin cho nhân dân về những đồng chí lãnh đạo cấp cao vào sự lãnh đạo của Đảng… Trong khi đó, nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư với tinh thần trách nhiệm của mình, đã dành nhiều thời gian công sức lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ. Với tầm quan trọng đặc biệt, ngay từ đầu công tác cán bộ đã được tiến hành chặt chẽ, kỹ lưỡng, nhiều chủ trương, nguyên tắc, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán bộ đã được thể chế hóa bằng các quy chế, quy định, quy trình bảo đảm dân chủ, minh bạch. Thế nên, việc đánh giá cán bộ là phải dựa vào đánh giá của các cấp có thẩm quyền và các nguyên tắc quy định của Đảng chứ không thể tin theo các thông tin chưa được kiểm chứng, thậm chí xuyên tạc trên mạng xã hội. Nếu chúng ta tin vào đó mà nghi ngờ mà hoang mang, mất niềm tin thì đã trúng vào mưu kế, mục tiêu của các thế lực thù địch, phản động.
Trong thời gian qua, các cơ quan truyền thông đã tích cực chủ động đưa thông tin chính thống, chính xác, đầy đủ, kịp thời cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và đến người dân. Đồng thời, các cơ quan chức năng cũng tích cực, chủ động trong việc đấu tranh ngăn chặn, xử lý về kỹ thuật, gỡ bỏ, triệt phá, điều tra, xử lý theo pháp luật những tin giả, thông tin sai sự thật, xấu độc trên Internet, mạng xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là những biện pháp cần thiết về kinh tế, kỹ thuật, pháp lý… và không thể “gỡ bỏ” hoàn toàn. Những luận điệu xuyên tạc, những thông tin sai trái có thể vẫn được đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội và đi kèm là nhiều bình luận khiếm nhã. Vì vậy, điều quan trọng trước hết là chúng ta phải có thái độ bình tĩnh, lập trường vững vàng và luôn nêu cao tinh thần cảnh giác phòng ngừa và chủ động đấu tranh ngăn chặn hiệu quả hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trong đó, với “lợi thế” và vai trò chức năng, nhiệm vụ của mình, cán bộ, giảng viên Trường Chính trị, ngoài những vấn đề đã nêu trên, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ giải pháp trọng tâm như sau:
Một là, tiếp tục tuyên truyền khẳng định quan điểm, chủ trương đúng đắn, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, đặc biệt là quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác cán bộ, trong đó, người được lựa chọn là ứng viên đưa ra bầu tại đại hội phải thực sự tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý theo tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW của bộ Chính trị.
Hai là, thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng, tiếp tục tuyên truyền những thành tựu của công cuộc đổi mới, chú trọng tuyên truyền nhiệm vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Ba là, tích cực viết bài tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên về bản chất của các thông tin phản động, xuyên tạc, từ đó có tinh thần cảnh giác, khả năng nhận diện và “miễn dịch” các nội dung thông tin xuyên tạc về Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh phê phán, phản bác thuyết phục những thông tin, bài viết có nội dung xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, Đại hội Đảng các cấp và Đại hội XIII của Đảng, nhất là trên không gian mạng.
Bốn là, củng cố tổ chức và phát huy vai trò của các “Nhóm cộng tác viên”, “Tổ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, “Câu lạc bộ giảng viên trẻ” và đội ngũ giảng viên có khả năng khai thác, sử dụng các tính năng, kỹ thuật công nghệ hiện đại,… trong việc phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các trang mạng độc hại, các blog “đen” đăng tải các nội dung xấu, độc hại, trái với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời tích cực, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng trước những âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các đối tượng chống phá. Chú trọng công tác tham mưu giúp Đảng ủy kịp thời xử lý các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ; tập trung giải quyết tốt những vấn đề bất cập, bức xúc có liên quan, không để kẻ xấu xuyên tạc, lợi dụng kích động biểu tình gây mất ổn định chính trị, chống phá Đảng.
Lịch sử của Đảng ta đã cho thấy: Sự thành công của Đảng và thắng lợi của cách mạng là dựa vào sức mạnh và sự ủng hộ, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Niềm tin ấy, ngoài đường lối, chủ trương đúng đắn, còn tập trung đội ngũ đảng viên, nhất là những đồng chí lãnh đạo của Đảng. Niềm tin ấy nếu mất đi sẽ là “nguy cơ” đối với Đảng. Chia rẽ mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với dân, bào mòn niềm tin của người dân đối với Đảng chính là mục đích xuyên tạc, tấn công của kẻ địch. Vì vậy, mỗi người chúng ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, tăng cường sức đề kháng trước những thông tin xấu độc và tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh, vạch trần những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch, phản động chính là “vũ khí” hữu hiệu nhất để tự bảo vệ mình và góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.
ThS. Nguyễn Trần Phương Hiền
Viên chức Khoa Lý luận cơ sở
Tác phẩm của Ph.Ăngghen: “Ông Đuyrinh đảo lộn khoa học” hay còn gọi là “Chống Đuyrinh” là một trong những tác phẩm có vị trí quan trọng trong hệ thống các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác, một tác phẩm có giá trị như là cuốn sách “gối đầu giường của mọi công nhân giác ngộ” về ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác-Lênin: Triết học duy vật biện chứng; Kinh tế chính trị học mác-xít; Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Đây là tác phẩm kiểu mẫu về tính đảng, lập trường triết học duy vật triệt để của Ph.Ăngghen, có ý nghĩa to lớn trong những chỉ dẫn của Ph.Ăngghen đối với những người mác-xít thế hệ sau, những bài học về thế giới quan, phương pháp luận, thái độ văn hóa đối với những di sản tư tưởng của quá khứ cũng như đối với kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa Mác.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, ảnh hưởng của nhà triết học Đuyrinh (1833-1921) trong đảng dân chủ - xã hội Đức rất lớn, ca ngợi Đuyrinh là “người cộng sản mới”. Nhận thấy tác hại của việc truyền bá chủ nghĩa Đuyrinh trong phong trào công nhân và sự “tha hóa” tư tưởng ở một số đảng viên. Ph.Ăngghen đã bày tỏ sự cần thiết và ý định phê phán một số quan điểm sai lầm của Đuyrinh. Tác phẩm Chống Đuyrinh được viết từ cuối tháng 5/1876 và đến đầu tháng 7/1878 thì hoàn chỉnh.
Cũng như các tác phẩm khác của Ph.Ăngghen, Chống Đuyrinh với văn phong đơn giản nhưng rành mạch và hấp dẫn, làm sáng tỏ những vấn đề khoa học chung nhất. Đặc biệt, là những vấn đề về chủ nghĩa duy vật lịch sử trong tác phẩm luận chiến này.
Thứ nhất, theo Ph.Ăngghen phải nhìn nhận lịch sử một cách duy vật.
Nhìn nhận lịch sử một cách duy vật ở chỗ “những sự kiện mới buộc người ta phải nghiên cứu lại toàn bộ lịch sử từ trước tới nay và khi đó người ta thấy rằng toàn bộ lịch sử đã qua đều là lịch sử đấu tranh giai cấp”[1]. Mỗi thời đại nhất định tạo ra những quan hệ kinh tế của thời đại, của giai cấp đó và cũng từ quan hệ kinh tế ấy giải thích toàn bộ kiến trúc thượng tầng gồm những thể chế pháp luật, chính trị cũng như quan niệm tôn giáo, triết học và các quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định.
Thứ hai, Ph.Ăngghen nêu lên quan niệm xuất phát của toàn bộ chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát từ sản xuất và tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ xã hội. Mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm và cùng sự phân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp, đều được quyết định bởi: Người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào. Nguyên nhân cuối cùng của mọi biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta mà là trong biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi.
Thứ ba, Ph.Ăngghen cũng nghiên cứu quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học, dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử.
Ph.Ăngghen đánh giá cao những mặt tích cực trong hệ thống lý luận của các nhà khoa học Xanhximông, Phuriê, Ôoen, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của chủ nghĩa xã hội khoa học không tưởng.
Xanhximông đã đề cập tới mâu thuẫn giữa người lao động và người ăn không ngồi rồi, tư tưởng mọi người phải lao động. Phuriê là người đầu tiên tuyên bố rằng một xã hội nhất định, trình độ giải phóng phụ nữ là cái thước đo tự nhiên của sự giải phóng nói chung. Ôoen cho rằng tính cách con người, một mặt là sản phẩm của cơ chế bẩm sinh của con người, mặt khác là sản phẩm của hoàn cảnh xung quanh con người trong suốt cuộc đời họ.
Thứ tư, về vấn đề đạo đức.
Ph.Ăngghen phê phán quan điểm của Đuyrinh cho rằng đạo đức là phạm trù vĩnh cửu, là chân lý tuyệt đối, đúng cho mọi thời đại, không có tính giai cấp. Ph.Ăngghen khẳng định rằng “Mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước tới nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ… đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp: hoặc là nó biện hộ cho sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị, hoặc là, khi giai cấp bị trị đã trở nên khá mạnh thì tiêu biểu cho sự trỗi dậy chống lại sự thống trị nói trên…”[2]
Thứ năm, về vấn đề bình đẳng.
Nếu như Đuyrinh xem bình đẳng chỉ là bình đẳng của hai ý chí con người dường như bỏ qua điều kiện lịch sử cụ thể khi phân tích vấn đề bình đẳng. Thì Ph.Ăngghen khẳng định, “bình đẳng” là một sản phẩm của sự phát triển lịch sử, vì thế không có khái niệm bình đẳng trừu tượng, hay bình đẳng tuyệt đối nào. Bản thân con người đã khác nhau về sức khỏe, giới tính, hoàn cảnh vật chất.v.v. Đó phải là hai con người hoàn toàn thoát ly mọi hiện thực, thoát ly tất cả mọi quan hệ dân tộc, kinh tế, chính trị và tôn giáo tồn tại trên trái đất, thoát ly mọi đặc tính giới tính và cá nhân, đến mức là từ hai người ấy chỉ còn lại có cái khái niệm thuần túy là “người” và chỉ lúc ấy thì họ mới thật sự “hoàn toàn bình đẳng”.
Tình trạng bình đẳng và bất bình đẳng là phạm trù lịch sử do quan hệ nội tại của kinh tế quy định. Trong xã hội có giai cấp, bình đẳng chỉ gắn liền với quan hệ giai cấp, vấn đề bình đẳng chỉ được xem xét, trong những điều kiện lịch sử cụ thể, không có bình đẳng chung chung, trừu tượng. “Cho nên quan niệm về bình đẳng là cái gì cũng được, nhưng quyết không phải là một chân lý vĩnh cửu”. [3]
Thứ sáu, vấn đề tự do
Ph.Ăngghen cho rằng tự do có 3 nội dung. Một là, nhận thức được tính tất yếu; hai là vận dụng được tính tất yếu; ba là, chi phối được tính tất yếu.
Tự do là sản phẩm lâu dài của lịch sử và chỉ có thể đạt được một cách đầy đủ trong chủ nghĩa cộng sản, khi con người thực sự làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình, nghĩa là con người bước từ vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do. Do đó, tự do là ở sự chi phối chính bản thân và tự nhiên bên ngoài, dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên, tự do là sản phẩm tất yếu của lịch sử.
Và Ph.Ăngghen đi đến kết luận rằng: Giờ đây, một khi mà triết học, kinh tế chính trị học và xã hội xã hội chủ nghĩa đã lùi lại ở phía sau rồi và trước mắt chúng tôi là bức tranh toàn thân của nhà văn mà chúng tôi đã phải đánh giá từng quan điểm riêng biệt, thì những ý kiến liên quan đến ông ta như là một con người lúc này có thể là quan trọng nhất, bây giờ chúng tôi có thể tự cho phép mình lấy những phẩm chất cá nhân của ông ta để giải thích những điều lầm lạc và sự tự cao tự đại về khoa học của ông ta và có thể tóm tắt sự phán đoán chung của chúng tôi về ông Đuyrinh bằng những chữ sau đây: “Tình trạng không có khả năng chịu trách nhiệm vì bệnh cuồng thích làm vĩ nhân”.[4]
Với nhận thức sâu sắc và triệt để trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng để giải thích những vấn đề xã hội được trình bày trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen có giá trị hết sức to lớn, là công cụ tư duy sắc bén, giải quyết những vấn đề nhận thức đặt ra trên mỗi bước đường quanh co, phức tạp trong hành trình sáng tạo đầy chông gai và gian lao. Đặc biệt là đối với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.
Hiện nay các thế lực thù địch vẫn luôn lợi dụng những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước cũng như những suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ đảng viên để chống phá, làm mất niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Vì vậy, việc nghiên cứu, vận dụng tinh thần đấu tranh, phê phán mà Ph.Ăngghen sử dụng trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” là hết sức quan trọng và cần thiết. Điều này góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch./.
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t. 20, tr. 201
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t. 20, tr. 137
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t. 20, tr. 154-155
[4] Nguyễn Bằng Tường, tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 239
ThS. Nguyễn Thành Phương
Trưởng khoa Lý luận cơ sở
Trong không khí tưng bừng của những ngày tháng 11 năm nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang náo nức với quyết tâm cao nhất nhằm khắc phục tốt nhất những hậu quả của bảo lũ miền Trung, đồng thời giành nhiều thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hướng tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào đầu thế kỷ XXI. Loài người tiến bộ trên thế giới mà nhất là dân tộc Việt Nam không thể quên những giá trị mà Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 để lại cho các dân tộc thuộc địa bị áp bức trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 103 năm thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917-7/11/2020) thì việc tìm hiểu về sự vận dụng và phát triển sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 trong tiến trình cách mạng Việt Nam là một việc làm hết sức cần thiết. Một mặt nhằm khẳng định giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, mặt khác giúp cho chúng ta nhận thức sâu sắc hơn tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tiến trình của cách mạng Việt Nam.
Còn nhớ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 ngày thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (7/11/1917-7/11/1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” cho Báo Pravđa (Liên Xô cũ), Người khẳng định “Cách mạng Tháng Mười là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một nước lớn là Liên Xô, rộng một phần sáu thế giới. Đó là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiền phong của họ là Đảng Bônsêvích lãnh đạo”(1).
Theo Bác, Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại không chỉ giải phóng dân tộc Nga mà còn thực hiện các mục tiêu của thời đại: Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người đánh giá: “Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản từ chỗ chỉ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã trở thành một hiện thực trong xã hội, có sức mạnh vô cùng to lớn lôi cuốn hàng nghìn triệu người vào hành động cách mạng, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(2).
Nghiên cứu cách mạng Tháng Mười Nga 1917, Người khẳng định động lực chủ yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga chính là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Nga; trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo và quyết định sự thắng lợi của cách mạng, sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của công - nông - binh, chính quyền Xôviết: “Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người”(3).
Từ bài học của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định liên minh công nông vừa là động lực vừa là yếu tố căn bản, bảo đảm cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng “Thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng. Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội”(4).
Khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức là một lực lượng cách mạng to lớn, là sức mạnh đại đoàn kết dân tộc cùng với sức mạnh thời đại, là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, trong khối liên minh ấy, theo Người: “Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”(5).
Về nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đó là cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá. Trong đó, Người nhấn mạnh hai nội dung căn bản là chính trị và kinh tế.
Nội dung cách mạng về chính trị, lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản Nga, giành quyền lãnh đạo xã hội về giai cấp công nhân Nga, giải phóng nhân dân lao động khỏi địa vị nô lệ và trở thành người làm chủ xã hội mới “đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động”(6).
Cách mạng về chính trị có vị trí quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, bởi nó là cơ sở và tiền đề cho việc thực hiện các nội dung cách mạng về kinh tế, tư tưởng, văn hoá. Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, là công cụ thống trị xã hội, duy trì quyền lực của giai cấp thống trị để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Do vậy, để xoá bỏ xã hội tư bản chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới, thì giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc cách mạng về chính trị là màn giáo đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không ngừng tăng cường và củng cố nền chuyên chính vô sản. Sau khi đã giành được chính quyền thì nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp công nhân là phải tăng cường nền chuyên chính vô sản để hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng”(7).
Nội dung cách mạng về kinh tế, đây là nội dung có ý nghĩa quyết định sự thắng lợi vững chắc của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. Bởi vì, chủ nghĩa xã hội muốn chiến thắng phải tạo ra năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động. Cho nên, giai cấp công nhân phải thực hiện nội dung cách mạng về kinh tế nhằm từng bước xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi địa vị kinh tế - xã hội của nhân dân lao động. Chính vì vậy, Người nhấn mạnh: “Triệt để xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiến lên chủ nghĩa cộng sản”(8).
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(9). Với ý nghĩa đó, Người khẳng định: “Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người”(10).
Người chỉ rõ: “Kinh nghiệm bản thân của Việt Nam chứng tỏ rằng chính là nhờ Đảng của những người Bônsêvích và của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại mà ở Việt Nam đã có một đảng mácxít lêninnít và Cách mạng Tháng Tám của chúng tôi đã giành được thắng lợi”(11).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào thực tế Việt Nam. Những bài học đó không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn lâu dài. Người không chỉ căn dặn nhân dân ta mà còn tuyên bố với bạn bè quốc tế rằng: “Kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười, những thành tựu của Liên Xô là ngôi sao chỉ đường cho chúng tôi trong sự nghiệp xây dựng một cuộc đời hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam”(12).
Một quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận mang tính chỉ đạo lâu dài đối với Đảng và nhân dân ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra là: “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại đã vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại và đối với nhân dân Liên Xô là vô cùng sâu sắc”(13).
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định tinh thần đó và bổ sung: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”(14), con đường đó bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười với tư cách giống như mặt trời chói lọi, chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất đã chỉ lối cho các dân tộc đấu tranh giành độc lập, tự do, hạnh phúc.
…………………………….
(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), Hồ Chí Minh (1967), “Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.387-388; tr.390; tr.387; tr.391; tr.391; tr.388; tr.391; tr.392; tr.387; 390; tr.397.
(11) Hồ Chí Minh (1957), “Lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Công nhân các nước xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.190;
(12), (13) Hồ Chí Minh (1957), “Bài phát biểu tại khóa họp Tối cao Liên Xô nhân dịp kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.180.
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 69.
ThS. Nguyễn Thành Phương
Tổ BVNTTT TCT Bến Tre
Thực hiện Thông báo số 136-TBHVCTKV IV về việc tổ chức lớp Bồi dưỡng cập nhật một số vấn đề lý luận, thực tiễn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ban Giám hiệu Trường Chính trị Bến Tre đã cử thành viên Tổ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng của nhà trường về tham dự.
Tại buổi cập nhật, các đại biểu đã được nghe lần lược hai chuyên đề:
- Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Một số vấn đề lý luận cơ bản, cấp bách
- Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc và đối sách của Việt Nam của PGS-TS Nguyễn Viết Thảo nguyên Phó Giám đốc Học viện CTQG HCM.
Với chuyên đề đầu tiên, trong buổi sáng PGS-TS Nguyễn Viết Thảo nguyên Phó Giám đốc Học viện CTQG HCM đã khẳng định: Tiếp tuc làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với 10 chủ đề cần bảo vệ và phản bác:
Chủ nghĩa Mác-Lênin như một học thuyết về sự phát triển; Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; Thời kỳ quá độ và định hướng xã hội chủ nghĩa; Dân tộc và giai cấp trong chủ nghĩa xã hội; Dân chủ xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị; Đảng cầm quyền và bản chất giai cấp của Nhà nước; Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở giữ vững hòa bình, ổn định; Đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa; 10. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới.
Trong từng chủ đề, PGS-TS Nguyễn Viết Thảo nguyên Phó Giám đốc Học viện CTQG HCM đã nêu và phân tích một cách sâu sắc, toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn cần làm sáng tỏ trong đấu tranh bảo vệ và phản bác các quan điểm sai trái, của các thế lực thù địch chống phá Đảng và Nhà nước, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Đây chính là cơ sở để các thành viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở các cấp xác định nội dung và phương thức nhằm đấu tranh bảo vệ và phản bác các quan điểm sai trái.
Buổi chiều cùng ngày, với chuyên đề thứ hai: Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc và đối sách của Việt Nam PGS-TS Nguyễn Viết Thảo nguyên Phó Giám đốc Học viện CTQG HCM với cách lập luận hết sức sâu sắc và khả năng thuyết trình hung hồn thu hút tốt người nghe, nội dung của chuyên đề đã giúp cho các các thành viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở các cấp có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn hết sức vững chắc, thiết thực nhằm truyên truyền về đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung mà cụ thể là đối sách của Việt Nam đối với Trung Quốc và Mỹ hiện nay.
Kết thúc một ngày Bồi dưỡng cập nhật một số vấn đề lý luận, thực tiễn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong lòng mỗi chúng tôi ngỗn ngang những tư duy, trăn trở cho hành động thiết thực trước mắt cũng như cho kế hoạch lâu dài. Làm sao để biến những quan điểm trên thành vũ khí sắc bén nhất trong đấu tranh vệ nền tảng tư tưởng, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch đã đang và sẽ điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam, cản trở con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

CN. Hồ Thị Thùy Dung
Viên chức Khoa Lý luận cơ sở
Thực tiễn đã chứng minh, trong tiến trình phát triển của các quốc gia, lực lượng thanh niên luôn đóng vai trò quan trọng trong mọi mặt của đời sống xã hội. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Đối với Việt Nam hiện nay đang đẩy mạnh đồng bộ, toàn diện sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, thanh niên luôn là lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thanh niên chiếm phần lớn trong lực lượng lao động xã hội, là nhân tố quan trọng quyết định trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Bên cạnh đó, thanh niên là những người chủ tương lai của nước nhà - những người kế tục sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, vì mục tiêu: Dân giàu - Nước mạnh - Dân chủ - Công bằng - Văn minh. Thanh niên là lực lượng năng động, sáng tạo, nhưng cũng rất nhạy cảm, dễ bị tác động, thường xuyên sử dụng các phương tiện hiện đại để cập nhật thông tin, sử dụng phần lớn kênh giao tiếp qua mạng xã hội nên dễ trở thành đối tượng tác động của các thế lực thù địch, với nhiều thủ đoạn thâm độc, tuyên truyền, tác động, hướng lái thanh niên đi ngược lại mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của thanh niên và thực trạng chống phá của các thế lực thù địch đối với thanh niên, thì yêu cầu nhận diện chính xác các thế lực thù địch, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng đối với thanh niên hiện nay là vấn đề vô cùng quan trọng. Đồng thời cần chủ động trang bị vũ khí lý luận sắc bén cho “những người chủ tương lai của nước nhà” để thanh niên nhận diện được đối tượng, âm mưu, thủ đoạn chống phá và đủ sức phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0) lan nhanh trên quy mô toàn cầu với tốc độ chưa từng có trong lịch sử. Là một trong những quốc gia tích cực trong hội nhập quốc tế, Việt Nam có nhiều thời cơ phát triển lẫn thách thức trước những thành tựu mà cuộc cách mạng 4.0 mang lại cho nhân loại. Nhưng một vấn đề đáng lo ngại là các thế lực thù địch đã nhanh chóng tận dụng thành tựu của cách mạng 4.0 đó là mạng internet toàn cầu, sự phát triển đa dạng của các kênh giao tiếp qua mạng xã hội… để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá, linh hoạt biến hóa với những thông tin thật, giả lẫn lộn, gây ra sự mơ hồ, mất phương hướng trong một bộ phận Nhân dân, nhất là tập trung vào lực lượng thanh niên của nước ta. Thời gian qua các thế lực thù địch thường sử dụng các âm mưu, thủ đoạn sau:
Thứ nhất, các thế lực thù địch lợi dụng sự lan truyền nhanh chóng của mạng xã hội, sự đa dạng của các kênh truyền tải thông tin (Youtube, Tik tok, Facebook, Zalo, Viber, Instagram…) biến mạng xã hội thành diễn đàn, ra sức đăng tải các bài viết, blog, hình ảnh, clip, thực hiện lives tream (phát trực tiếp) nhằm kêu gọi tập hợp lực lượng thanh niên thiếu hiểu biết, tạo dư luận về các vấn đề kinh tế, xã hội từ đó đẩy lên thành các vấn đề chính trị, gây nhiễu loạn thông tin. Tăng cường tuyên truyền những nội dung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá Đảng và Nhà nước, kích động sự thù hằn dân tộc, chia rẻ tôn giáo, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta. Sự phát triển mạnh mẽ của mạng internet và các thiết bị kết nối toàn cầu, làm cho các thế lực chống phá bên ngoài có điều kiện tiếp cận sâu vào lực lượng thanh niên, mọi thành phần, mọi địa bàn từ thanh niên ở nông thôn, thành thị đến miền núi vùng sâu vùng xa; bằng nhiều con đường để tiếp cận thanh niên công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, thanh niên trong lực lượng vũ trang; thanh niên có trình độ cao, sinh viên du học nước ngoài, chuyên gia trẻ, thực tập sinh kỹ thuật cao,… đây là những đối tượng mà các thế lực thù địch tập trung lôi kéo, tác động để chuyển hoá mua chuộc và cài cắm vào hệ thống chính trị nước ta, thực hiện leo cao, chui sâu, phá hoại Đảng từ bên trong. Chúng lợi dụng những mặt hạn chế của Đảng và Nhà nước trong quá trình lãnh đạo, quản lý xã hội, khoét sâu những mâu thuẫn, thổi phồng, xuyên tạc nhằm làm suy giảm lòng tin của một bộ phận thanh niên đối với Đảng và Nhà nước. Từ những mâu thuẫn không được giải quyết triệt để, chúng tìm cách tác động, tạo nên những điểm nóng về chính trị xã hội ở trong nước, kết hợp trong - ngoài tạo nên những cuộc cách mạng đường phố, bạo loạn chính trị, lật đổ, tạo lực lượng đối kháng, chống Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Thứ hai, thông qua các phần mềm gián điệp, phát tán các mã độc, đánh cắp thông tin cá nhân, thông tin nội bộ, các thế lực thù địch bịa đặt thông tin, tạo kịch bản hoàn hảo, phát tán “thông tin giả”, tung hỏa mù nhằm bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, nói xấu Đảng, Nhà nước và những cán bộ lãnh đạo của ta, nhằm mục đích hạ bệ thần tượng, làm suy giảm uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước, của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tạo cho thanh niên tâm lý hoài nghi, bi quan, khủng hoảng niềm tin, phân vân trong xác định mục tiêu lý tưởng để phấn đấu.
Thứ ba, thanh niên luôn có khát vọng khởi nghiệp, tham gia các hoạt động kinh tế, vươn lên tự lập thân, lập nghiệp, làm giàu, các thế lực thù địch thường lợi dụng điểm yếu của thanh niên trong quá trình này, do không nắm được các quy luật, các quan hệ kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên dễ bị thất bại trong cạnh tranh, gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu lập thân lập nghiệp. Từ đó, thông qua những buổi hội thảo bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa “lớp học làm giàu”, “những cách làm giàu nhanh chóng”,… của những tổ chức phi chính phủ, ca ngợi thành tựu của chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam làm cho một bộ phận thanh niên có nhận thức sai lệch. Từ đó mất niềm tin trong cuộc sống, trở nên vị kỷ, chạy theo lối sống thực dụng, buông thả mà quên đi những đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Như vậy, ta thấy rằng hiện nay các thế lực thù địch đang tăng cường thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá đối với thanh niên dưới nhiều hình thức trên các bình diện tư tưởng, văn hóa - xã hội đặc biệt là trên không gian mạng. Những thủ đoạn thâm độc, tinh vi của các thế lực thù địch đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của một bộ phận thanh niên còn hạn chế về trình độ nhận thức, về truyền thông… Có không ít thanh niên có biểu hiện phai nhạt về lý tưởng, bị các thế lực thù địch dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc đi vào con đường tiêu cực. Trong khi đó, việc nhận diện chính xác các thế lực thù địch và nhận thức rõ được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch là điều không phải dễ dàng đối với một bộ phận thanh niên. Vì vậy, Đảng, Nhà nước, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các cấp ủy Đảng cần thực hiện hiệu quả các giải pháp sau:
Giải pháp thứ nhất: Tăng cường công tác tập hợp, giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức của thanh niên về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Để thực hiện giải pháp này Đoàn thanh niên cần phải quán triệt, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới và Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới cho đoàn viên và thanh niên trong hệ thống chính trị. Các cấp ủy Đảng, Đoàn Thanh niên các cấp cần vận dụng đa dạng các hình thức tuyên truyền như thông qua các hội thi: Tìm hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sinh hoạt chuyên đề; diễn dàn; hội thảo… giúp lực lượng thanh niên nâng cao nhận thức chính trị, xác định đúng đắn mục tiêu lý tưởng, củng cố niềm tin của thanh niên đối với Đảng, Nhà nước với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Giải pháp thứ hai: Chú trọng công tác giáo dục truyền thống, tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thanh niên, những tấm gương tuổi trẻ qua các thời kỳ, nhất là tấm gương thanh niên tiêu biểu trong thời kỳ đổi mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Gắn tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng, lịch sử truyền thống cách mạng địa phương với giáo dục chính trị tư tưởng trong các đợt sinh hoạt, học tập chỉ thị, nghị quyết, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thông qua các hình thức đa dạng như các hội thi tìm hiểu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân Việt Nam,…; các hoạt động về nguồn; các phong trào tình nguyện, các hoạt động vì cộng đồng để giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc, chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc, giáo dục lối sống cao đẹp, gương mẫu chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với lực lượng thanh niên.
Giải pháp thứ ba: Nâng cao nhận thức của thanh niên về sự nguy hiểm của các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với thanh niên hiện nay. Thiết nghĩ, nhiệm vụ phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, trước hết là những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, không chỉ là nhiệm vụ riêng của Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng mà đó còn là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị. Là nghĩa vụ, trách nhiệm của những công dân yêu nước, đặc biệt là của lực lượng thanh niên. Thanh niên cần có ý thức học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, tích cực cập nhật những kỹ năng nhận diện và đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên mạng xã hội và các kênh truyền thông khác. Nêu cao tinh thần cảnh giác, sớm nhận diện, vạch trần những âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi và những biểu hiện, hành vi chống phá của các thế lực thù địch, kịp thời báo cáo đến các cơ quan chức năng để xử lý, giải quyết triệt để những mầm mống phá hoại. Đoàn viên thanh niên cần phải thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc qua các Đội Dân quân tự vệ, Đội Tự vệ cơ quan, Đội Dân phòng.., để giữ gìn bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội ở nơi làm việc và nơi cưu trú.
Giải pháp thứ tư: Phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội như: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên, Công đoàn, Mặt trận cần phát huy vai trò của mình cùng với Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng tích cực hướng dẫn, giúp đỡ lực lượng thanh niên trong quá trình lập thân, lập nghiệp thông qua những chính sách hỗ trợ thanh niên làm kinh tế giỏi, chính sách giúp thanh niên khởi nghiệp thoát nghèo bền vững. Các cơ quan, tổ chức cần chăm lo đời sống, định hướng nghề nghiệp, tạo điều kiện cho thanh niên phát huy năng lực trong công tác chuyên môn. Từ đó, bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, yêu Đảng, yêu chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào công cuộc đổi mới đất nước, vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta do Đảng lãnh đạo. Tuyên truyền, vận động thanh niên và người thân, gia đình tuân thủ và chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Không tin, không nghe, không làm theo những luận điểm xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi tư tưởng, hành động làm nguy hại đến an ninh quốc gia, ảnh hưởng đến môi trường hòa bình ổn định của đất nước.
***
Trường Chính trị Bến Tre là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Tỉnh ủy, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Hơn 70 năm trưởng thành và phát triển, các thế hệ lãnh đạo nhà trường luôn quan tâm xây dựng bồi dưỡng lực lượng đoàn viên, thanh niên xứng đáng là đội hậu bị, là cánh tay nối dài của Đảng, đủ đức đủ tài kế tục sự nghiệp đào tạo bồi dưỡng cán bộ của nhà trường. Thời gian qua nhận thức được tầm quan trọng của công tác nhận diện các thế lực thù địch và âm mưu thủ đoạn chống phá đối với thanh niên, Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đã kịp thời lãnh chỉ đạo Ban Chấp hành chi đoàn thực hiện những công tác sau:
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thông qua những buổi sinh hoạt chi đoàn, sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ “Giảng viên trẻ”, tổ chức hội nghị học tốt nhằm nâng cao nhận thức của đoàn viên, thanh niên về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Khắc phục tình trạng lười học lý luận chính trị trong đoàn viên, thanh niên, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đặc biệt là trên không gian mạng.
Thông qua những chuyến về nguồn, nghiên cứu thực tế, giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục, thể thao với các chi đoàn bạn, kết hợp cùng đơn vị chi đoàn nơi cư trú, chú trọng công tác giáo dục truyền thống, tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống các luận điểm xuyên tạc, tuyên truyền nói xấu Đảng, Nhà nước, cách mạng.
Thường xuyên nhắc nhở, vận động đoàn viên, thanh nghiên nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng viết bài, bản tin phục vụ cho trang web nhà trường, chuyên mục “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, góp phần nhận diện, kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Thông qua hoạt động của Câu Lạc bộ Giảng viên trẻ nhằm tạo môi trường cho giảng viên trẻ Trường Chính trị Bến Tre được giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy, khả năng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn. Nội dung sinh hoạt chủ yếu của câu lạc bộ: Trao đổi kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống sư phạm; kỹ năng xây dựng kế hoạch cá nhân; trao đổi thực hành kỹ năng thuyết trình; kinh nghiệm viết bài khoa học; kinh nghiệm quản lý lớp; kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy như soạn giáo án điện tử; cách khai thác thông tin trên mạng phục vụ hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học; kỹ năng đấu tranh nhận diện các thế lực thù địch, các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với đoàn viên, thanh niên… Đồng thời, giáo dục nâng cao bản lĩnh, tính Đảng, lập trường tư tưởng chính trị, tâm huyết, lòng đam mê với nghề, truyền cảm hứng, lan tỏa cho giảng viên tập sự để tạo lực lượng kế thừa vững chắc trong tương lai.
Tăng cường sự lãnh, chỉ đạo của Đảng ủy đối với Đoàn Thanh niên. Trong mọi hoạt động của chi đoàn Trường Chính trị, Đảng ủy luôn quan tâm sâu sát, định hướng chỉ đạo kịp thời, đảm bảo thực hiện đúng Điều lệ Đảng, điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy triệt để tính xung kích, tiên phong, gương mẫu của đoàn viên, thanh niên. Kịp thời định hướng tư tưởng, hướng dẫn cho đoàn viên thanh niên nhận thức đúng đắn, nắm được bản chất của các vấn đề xã hội, các điểm nóng chính trị - xã hội, hướng dẫn các kỹ năng cần thiết để đoàn viên thanh niên nhà trường có thể đấu tranh khoa học, hiệu quả, khôn khéo trước những âm mưu thủ, đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Như vậy, có thể thấy rằng để có thể giúp cho đoàn viên, thanh niên nhận diện được âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với thanh niên hiện nay, các cấp ủy Đảng, đặc biệt là tổ chức Đoàn Thanh niên các cấp cần tập trung vào các giải pháp: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; chú trọng công tác giáo dục truyền thống, tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thanh niên; nâng cao nhận thức của thanh niên về sự nguy hiểm của các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với thanh niên hiện nay và phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị để cùng nhau giúp đoàn viên, thanh niên nhận diện chính xác các thế lực thù địch và âm mưu, thủ đoạn chống phá đối với thanh niên, để từ đó hình thành “mặt trận” thanh niên xung kích trong đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá, phát huy vai trò của thanh niên trong đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc của các phần tử cơ hội chính trị, của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đồng thời góp phần chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyến hoá” trong đoàn viên, thanh niên hiện nay./.
CN. Lê Thị Thảo Ngọc
Viên chức Khoa Nhà nước và pháp luật
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, một danh nhân văn hóa thế giới. Người đã sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từng bước giành độc lập, tự do. Sinh thời, Người rất coi trọng việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Người gọi tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng đã đề ra.
1. Nguyên tắc tập trung dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngay từ khi thành lập Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, có vai trò trực tiếp chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng, tổ chức, sinh hoạt và hoạt động lãnh đạo của Đảng; quy định cơ cấu, hình thức tổ chức, thiết lập chế độ các cơ quan lãnh đạo, đồng thời xác lập nguyên tắc giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ Đảng. Người khẳng định, Đảng phải là khối thống nhất ý chí và hành động: “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”[1].
Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ; tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ là nền tảng của tập trung. Nguyên tắc tập trung dân chủ đòi hỏi toàn bộ những vấn đề cơ bản, hệ trọng, những chủ trương, phương hướng, chiến lược phải được dân chủ thảo luận trong tập thể các cơ quan lãnh đạo từ cao đến thấp theo phạm vi, quyền hạn đã được xác định và được quyết định theo đa số, ý kiến thiểu số vẫn được bảo lưu đệ trình lên cấp trên để xem xét. Tuy nhiên, khi tổ chức đã thống nhất ban hành nghị quyết thì phải trên dưới đồng lòng, nói và làm theo nghị quyết; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức. Tập trung và dân chủ có quan hệ chặt chẽ không thể tách rời, luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Vì vậy, trong tổ chức và hoạt động không nên quá coi trọng mặt nào.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền ở nước ta, biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ chính là nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung”[2]. Trong tổ chức và hoạt động cần phải có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách, bởi lẽ “một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm”[3].
Tuy nhiên, khi đề cao quá mức tính dân chủ, tập thể trong lãnh đạo dễ dẫn đến tình trạng mất tập trung, loãng ý kiến; mỗi người đều đưa ra ý kiến và bảo vệ ý kiến của mình không lắng nghe ý kiến của tập thể, đặt nặng lợi ích cá nhân hơn lợi ích tập thể, hoặc những ý kiến đưa ra không theo đúng định hướng hoạt động của tập thể. Chính vì vậy cần phải thực hiện tập trung, phải có người phụ trách. Người phụ trách phải là người có đủ năng lực, tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Cá nhân phụ trách nhằm tăng cường và phát huy trách nhiệm cá nhân nhưng phải đặt trong mối quan hệ với tập thể.
2. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trải qua hơn 90 năm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng ta luôn kiên định lựa chọn tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản của Đảng. Qua các kỳ Đại hội, căn cứ vào tình hình thực tiễn, nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ không ngừng được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng ta đã thông qua Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó nêu rõ: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”
Cụ thể hơn, tại Điều 9 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định:
“Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là:
Một là, cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách (tuy cấp ủy cấp trên có quyền chỉ định nhưng không được quá 1/3 số lượng do Đại hội bầu).
Hai là, cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội Đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là Đại hội Đại biểu hoặc Đại hội Đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là Ban Chấp hành Đảng bộ, Chi bộ (gọi tắt là cấp ủy).
Ba là, cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.
Bốn là, tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội Đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành
Trung ương.
Năm là, nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội Đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.
Sáu là, tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên”.
3. Đề xuất giải pháp đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Để đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ được thực hiện hiệu quả, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của đội ngũ đảng viên về nguyên tắc tập trung dân chủ. Bởi lẽ khi và chỉ khi hiểu đúng, hiểu đủ về nội hàm của nguyên tắc thì mới có thể thực hiện đúng, tránh được tình trạng không hiểu hoặc hiểu “nửa vời” dẫn đến những biến dạng trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ như dân chủ hình thức, trong cuộc họp không đưa ra ý kiến nhưng ra ngoài lại bàn tán không đồng tình; hay dân chủ cực đoan, quá dựa dẫm vào dân chủ mà thiếu tính tập trung, không khai thác được sức mạnh của tập thể,…
Thứ hai, tăng cường hiện thực hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng thông qua các chủ trương, đường lối, nghị quyết, quyết định, chính sách, chương trình hành động,... Đưa tập trung dân chủ không còn là “những câu chữ trên giấy” hay “những lời phát biểu lý thuyết” mà thực sự trở thành nguyên tắc cốt lõi, xương sống trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta trên thực tế.
Thứ ba, bản thân mỗi đảng viên cần phát huy hơn nữa tính gương mẫu, tiên phong, tự giác, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong hoạt động. Kiên quyết phản đối các hình thức dân chủ hình thức hoặc dân chủ cực đoan; nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình trên tinh thần phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau.
Thứ tư, các cấp ủy đảng tăng cường thực hiện công tác kiểm tra giám sát, nghiêm túc phê bình hoặc có các biện pháp xử lý kỷ luật hợp lý các đảng viên không tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì mục đích không chính đáng.
Mỗi đảng viên là tế bào cấu thành nên tổ chức Đảng. Chính vì vậy, để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng Đảng ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; “thực sự là đạo đức, là văn minh”, mỗi đảng viên phải thật sự hiểu đúng bản chất và nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp của Đảng, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn trong công tác tổ chức và hoạt động./.
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 5, tr.553.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.505.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.504.
Nguyễn Ngọc Diễm
Viên chức khoa Xây dựng Đảng
Vladdimia Ilich Lênin sinh ngày 22/4/1870 trong một gia đình trí thức Nga ở vùng Simbirst (nay là Ulianôvscơ), một nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của mình, V.I.Lênin là người đã có cống hiến đặc biệt xuất sắc trong việc bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác và là người sáng lập Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. V.I.Lênin đã để lại cho toàn nhân loại một di sản tư tưởng, lý luận vĩ đại lẫn nhân cách cao đẹp, mẫu mực của một người cộng sản chân chính, có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trở thành tài sản chung của toàn nhân loại trong hành trình xây dựng một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn.
Thứ nhất, V.I.Lênin là người kế tục, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại mới
Chủ nghĩa Mác ra đời từ giữa thế kỷ XIX, được đánh dấu bởi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bất hủ. Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân đã được tổ chức, được lãnh đạo bởi chính đảng của mình. Nhận thấy bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin – một thanh niên trí thức có tư tưởng cấp tiến không chấp nhận chế độ Nga hoàng thối nát, lạc hậu, tự nguyện trở thành một người mácxít và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho sự thành công của chủ nghĩa Mác. Ông đã kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, chống phá chủ nghĩa Mác và phê phán những tư tưởng của phái “dân túy Nga”, phái “mácxít hợp pháp”, các biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác. Trong quá trình đấu tranh đó, chủ nghĩa Mác đã phát triển một cách toàn diện cả trên lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Trên lĩnh vực triết học, V.I.Lênin đã có cống hiến xuất sắc trong việc phát triển chủ nghĩa duy vật mácxít trên hàng loạt các khía cạnh như: Quan niệm về vật chất; về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; về các khái niệm, phạm trù triết học; về lý luận nhận thức cùng hoàng loạt các vấn đề cơ bản của triết học. V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến phép biện chứng, theo ông giữa phép biện chứng, lôgíc học và lý luận nhận thức có sự thống nhất.
Trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin cũng phát triển lý luận kinh tế chính trị học trên hàng loạt các vấn đề: Quá trình hình thành chủ nghĩa xã hội ở Nga; về tính chất “đan xen” khách quan của các thành phần kinh tế và tính không thuần nhất của sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội…
Trước thực tiễn mới của thời đại, V.I.Lênin đã có đóng góp to lớn làm phong phú chủ nghĩa xã hội khoa học. Tiêu biểu là lý luận về xây dựng Đảng kiểu mới, Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân. Những luận điểm của V.I.Lênin về Đảng kiểu mới là sự khẳng định, phát triển và hoàn chỉnh học thuyết Mác-Ăngghen về Đảng Cộng sản, đặt cơ sở cho sự ra đời và hoạt động của Đảng Bônsêvích Nga và hàng loạt các Đảng Cộng sản sau này, đồng thời là tiêu chuẩn khoa học để phân biệt chính Đảng mác-xít của giai cấp công nhân với các đảng phái khác.
Trong điều kiện một nước tiểu nông lạc hậu tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiều vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn đã được Lênin nghiên cứu và giải quyết đúng đắn mà Chính sách kinh tế mới (NEP) là một trong nhiều dẫn chứng chứng minh sự phát triển hết sức sáng tạo chủ nghĩa Mác vào điều kiện nước Nga. V.I.Lênin cũng đã nhấn mạnh “Chính vì chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều chết cứng, một học thuyết nào đó đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch, mà là một kim chỉ nam sinh động cho hành động, chính vì thế nó không thể không phản ánh sự biến đổi mạnh mẽ của điều kiện sinh hoạt xã hội”(1). Chính vì vậy, nó luôn phải được vận dụng, bổ sung, phát triển. Di huấn mà V.I.Lênin đã để lại cho chúng ta là phải luôn xuất phát từ thực tiễn, phải phân tích cụ thể tình hình và ông xem đó là bản chất, linh hồn sống của Chủ nghĩa Mác. Những sáng tạo đó chứng tỏ năng lực trí tuệ và sự nhạy cảm của V.I.Lênin khi đánh giá tình hình thực tế cũng như sự trung thành của ông với chủ nghĩa Mác.
Những đóng góp xuất sắc của V.I.Lênin về tư tưởng, lý luận đã làm thành “giai đoạn Lênin” của quá trình phát triển chủ nghĩa Mác. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Người kế tục một cách thiên tài sự nghiệp vĩ đại của Mác và Ăngghen trong những điều kiện lịch sử mới là V.I.Lênin” (2).
Thứ hai, V.I.Lênin là người biến chủ nghĩa xã hội khoa học từ lý luận trở thành hiện thực, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới
Là lãnh tụ của Cách mạng tháng Mười - thắng lợi cách mạng vĩ đại, hình thành nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, V.I.Lênin đã biến những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trở thành hiện thực sinh động. Thông qua cuộc cách mạng đó, Người đã giải đáp những vấn đề cơ bản nhất mà thời đại mới đặt ra cho giai cấp công nhân khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình và lần đầu tiên trong lịch sử thế giới Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản duy trì nạn áp bức giai cấp cùng nạn áp bức dân tộc, phát động các cuộc chiến tranh đế quốc, V.I.Lênin khẳng định các dân tộc có quyền bình đẳng, quyền tự quyết và sự liên hiệp giữa giai cấp công nhân các dân tộc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc là một tất yếu của lịch sử. Người nêu cao khẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”. Tư tưởng ấy cùng sự ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga đã mở đầu cho phong trào giải phóng dân tộc vô cùng mạnh mẽ - một dòng thác cách mạng tấn công vào dinh lũy của chủ nghĩa đế quốc.
V.I.Lênin đã nhận thấy mối quan hệ mật thiết của cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới – độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là chỉ dẫn quý báu cho các dân tộc trong quá trình lựa chọn con đường phát triển nếu không muốn độc lập dân tộc chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Thứ ba, V.I.Lênin đã để lại cho nhân loại một nhân cách cao đẹp, mẫu mực của người cộng sản chân chính
Sinh ra trong một gia đình trí thức, được hưởng thụ một nền giáo dục gia đình rất nghiêm túc nhưng cũng giàu tính vị tha, đôn hậu, vốn là nét đẹp truyền thống của Nga, con người Nga. Được nghiên cứu chủ nghĩa Mác, tư tưởng của những nhà cách mạng, nhà văn hóa Nga, V.I.Lênin đã sớm lựa chọn chủ nghĩa Mác bởi suy cho cùng đó là chủ nghĩa có thể đem lại sự giải phóng toàn diện cho con người cả về tâm hồn lẫn thể xác.
Tìm hiểu nhân cách và con người của V.I.Lênin, dường như có hai mặt tương phản nhưng đều thống nhất ở động cơ, mục đích sống và hành động vì giai cấp công nhân và những người lao động cần lao: Người yêu người lao động và chính Người là hiện thân của sự lao động tận tụy, quên mình, song Người cũng căm ghét thói xa hoa, ăn bám đến cùng; Người thương yêu đồng chí, đồng đội, thương yêu con người hết mực, song cũng kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù của giai cấp, của nhân loại, một quyết tâm sắt đá vì sự nghiệp cách mạng; Người để lại cho chúng ta một phong cách sống giản dị, cần kiệm, gần gũi nhân dân, một lối sống cao thượng, một cách làm việc ngăn nắp, khoa học, một nghị lực phi thường để vượt mọi khó khăn.
Những di sản tư tưởng, lý luận vĩ đại lẫn nhân cách cao đẹp, mẫu mực mà V.I.Lênin để lại cho nhân loại là ngọn đèn soi sáng con đường cách mạng của giai cấp công nhân và những người lao động trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đối với Việt Nam, tư tưởng của V.I.Lênin đã mở ra chân trời mới, soi đường cho nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập, tự do cho dân, cho nước đã thôi thúc Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Người đã gặp được và đọc Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin, Người cảm động: “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”(3). Tiếp nhận những tư tưởng, luận điểm sâu sắc từ V.I.Lênin, nhất là tư tưởng về quyền các dân tộc bình đẳng, về cách mạng vô sản… và bài học của Cách mạng tháng Mười Nga; bằng trí tuệ và kinh nghiệm sau nhiều năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định: “Con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam là đi theo con đường cách mạng vô sản”, Người coi những tư tưởng của V.I.Lênin và bài học từ Cách mạng tháng Mười Nga là “cẩm nang thần kỳ”, tiếp thu và vận dụng sáng tạo chứ không sao chép “cẩm nang” ấy vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân, đủ uy tín, năng lực lãnh đạo Nhân dân Việt Nam vượt qua bao khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Hơn 90 năm qua, nhờ đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và tiếp tục xây dựng, phát triển đất nước ngày một giàu đẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã tạo ra những chiến sỹ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận khoa học cách mạng nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất”(4).
Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh V.I.Lênin (22/4/1870 – 22/4/2020) là dịp để cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận thức sâu sắc về công lao và cống hiến vĩ đại của V.I.Lênin đối với phong trào công nhân và cách mạng vô sản thế giới, về những giá trị bền vững trong di sản tư tưởng, lý luận phong phú cũng như nhân cách cao đẹp của một lãnh tụ vĩ đại nhằm tiếp tục vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay./.
Chú thích
1. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t. 20, tr. 103.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr. 408.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 562
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 6, tr. 386.

