Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
ThS. Nguyễn Trần Phương Hiền
Viên chức khoa Lý luận cơ sở
Nhân kỷ niệm Ngày sinh C.Mác (5/5/1818), là dịp để chúng ta bày tỏ tình cảm trân trọng đối với C.Mác – một trong những nhà tư tưởng vĩ đại, nhà khoa học, nhà cách mạng lỗi lạc về lý luận, về tổ chức, về đấu tranh thực tiễn. Người thầy vĩ đại của những người cộng sản, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại tiến bộ. Người đã cùng Ph.Ăngghen xây dựng nên hệ thống lý luận khoa học và cách mạng để nhận thức và cải tạo thế giới.
Hơn hai thế kỷ đã đi qua, với biết bao biến thiên của lịch sử, những cống hiến vĩ đại của C.Mác, giá trị tư tưởng C.Mác luôn bị các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị chống phá, xuyên tạc và phủ nhận. Đặc biệt, là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội với tư cách là hòn đá tảng của học thuyết Mác.
Nhiều quan điểm khác nhau phủ định học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác, nhưng điểm chung của những quan điểm này đều phủ định tính khách quan của quy luật xã hội, cho rằng thực tiễn ngày nay có nhiều đổi thay như: Toàn cầu hóa; khoa học công nghệ có bước tiến nhảy vọt; internet vạn vật; chiến tranh cục bộ, xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc; biến đổi khí hậu, dịch bệnh… tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi nên học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác là lỗi thời, sai lầm. Bằng các luận cứ về mặt lý luận khoa học, về mặt thực tiễn và về thực tế lịch sử, tác giả bài viết khẳng định tính đúng đắn của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội.
1. Về mặt lý luận khoa học
Một là, các quan điểm phủ định học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác bắt đầu từ phủ định tính khách quan của quy luật xã hội.
Để khẳng định cơ sở khoa học của quy luật xã hội và quy luật tự nhiên đều tồn tại khách quan và có thể nhận thức bởi con người. C.Mác và Ph.Ăngghen bắt đầu từ những học thuyết triết học trong lịch sử tư tưởng của nhân loại mà trực tiếp chính là triết học cổ điển Đức. Chính triết học cổ điển Đức đã đặt vấn đề về phương thức phát triển của xã hội loài người và đã giải quyết chưa triệt để làm cơ sở lý luận trực tiếp cho C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển học thuyết hình thái kinh tế - xã hội làm cho nó khoa học hơn, duy vật hơn và duy nhất đúng đắn.
Các quy luật tự nhiên và quy luật xã hội đều có cơ sở chung, đó là tính thống nhất vật chất của thế giới. Bản thân con người và xã hội loài người, xét đến cùng chỉ là một bộ phận của thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, các quy luật chỉ được hình thành, vận động, phát triển thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Con người không tự tiện xóa bỏ quy luật mà chỉ thông qua hoạt động thực tiễn của mình con người có thể làm cho quy luật diễn ra nhanh hoặc chậm hơn. Bởi lẽ, giữa quy luật xã hội và quy luật tự nhiên khác nhau ở chỗ chúng mang tính xu hướng, quy luật xã hội phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người mới bộc lộ, con người có ý thức, tình yêu, lòng căm thù, lợi ích,… việc nhận thức, kiểm nghiệm các quy luật xã hội khó khăn, phức tạp hơn các quy luật tự nhiên và tất nhiên không có nghĩa là con người không thể nhận thức được.
Hai là, các quan điểm phủ định học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác cho rằng, với sự phát triển của trí tuệ, khoa học, công nghệ mới là tiêu chí, là động lực cho sự vận động, phát triển của xã hội.
Chính thực tiễn phát triển của lịch sử loài người không thể tách trí tuệ, khoa học, công nghệ ra khỏi sản xuất vật chất và nếu thiếu sản xuất vật chất, trí tuệ, khoa học, công nghệ không thể phát triển được. Vì vậy, quan điểm coi sản xuất vật chất là nền tảng của sự tồn tại và phát triển xã hội; biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là nền tảng cho sự vận động, phát triển xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen là không hề sai lầm và lỗi thời.
Ba là, các quan điểm phủ định học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đồng nhất học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác là một hình thức của thuyết quyết định luận.
Trong quá trình con người lao động sản xuất, quan hệ sản xuất đóng vai trò chi phối và linh hồn của quan hệ sản xuất lại quyết định quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Theo một lôgic nội tại đi từ sản xuất vật chất đến sản xuất tinh thần; từ đời sống kinh tế đến đời sống chính trị; từ lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất; từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng và sự tác động trở lại của sản xuất tinh thần đến sản xuất vật chất; của chính trị đối với kinh tế; của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng. Đây là yếu tố khác nhau cơ bản giữa học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác và thuyết quyết định luận.
2. Về mặt thực tiễn
Các luận điểm xuyên tạc học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác thường tập trung, tô đậm vào cái gọi là “quy luật chung”, “con đường chung” mà tất cả các dân tộc dù trong điều kiện lịch sử nào, cũng nhất thiết phải đi theo.
Thực tế cho thấy, dòng chảy của lịch sử nhân loại vẫn diễn ra theo sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Hình thái kinh tế - xã hội phong kiến ra đời từ hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa ra đời từ hình thái kinh tế - xã hội phong kiến và từ trong lòng của chủ nghĩa tư bản ra đời chủ nghĩa xã hội. Các quan điểm phủ định học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vì cho rằng chủ nghĩa tư bản là cuối cùng, là đỉnh cao phát triển của nhân loại.
Chính bước chuyển từ thủ công nghiệp phường hội lên công trường thủ công, rồi từ công trường thủ công lên nền đại công nghiệp, cùng sự phân công lao động và nhu cầu trao đổi do lực lượng sản xuất phát triển, kết quả là những xiềng xích phong kiến đã bị đập tan nhường chỗ cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và ngay trong lòng của chủ nghĩa tư bản hiện đại đã xuất hiện các điều kiện, tiền đề kinh tế, vật chất chuẩn bị cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội.
Điều này diễn ra một cách lịch sử - tự nhiên. Bởi lẽ, những nguyên nhân dẫn tới những sự thay thế này là do những mâu thuẫn bên trong lòng của mỗi hình thái kinh tế - xã hội quy định. Đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, khi những mâu thuẫn này được giải quyết sẽ cho ra đời một hình thái kinh tế - xã hội mới. Quá trình này diễn ra không phụ thuộc vào ý chí, mong muốn của con người.
3. Về mặt lịch sử
Tính lịch sử trong sự vận động của các hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra rằng, sự vận động của các hình thái kinh tế - xã hội diễn ra một cách khách quan nhưng gắn liền với những điều kiện lịch sử - cụ thể, với tính chất kinh tế - xã hội của từng quốc gia dân tộc. Do các điều kiện lịch sử, văn hóa truyền thống, chính trị nên ở mỗi quốc gia sự vận động của các hình thái kinh tế - xã hội có thể diễn ra tuần tự từ thấp lên cao hoặc “bỏ qua” một hoặc vài hình thái kinh tế - xã hội trong trật tự phát triển của mình. Điển hình là Autralia, các quốc gia Mỹ La tinh đều bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội phong kiến trong quá trình phát triển của mình và việc bỏ qua này cũng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ, mà do điều kiện lịch sử khách quan quy định. Nếu như cùng một hình thái kinh tế - xã hội phong kiến nhưng đặc trưng của Châu Âu là phân quyền thì phong kiến phương Đông là tập quyền. Rõ ràng việc “bỏ qua” một hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong trật tự phát triển của một quốc gia là không thể tùy tiện, mà phải tuân theo quy luật khách quan.
Xét từ lý luận hay từ lịch sử và thực tiễn, thì học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác không hề sai lầm, lỗi thời. Dù các quan điểm phủ định xuyên tạc hoặc cố tình bôi đen triết học Mác - Lênin thì sự thật ấy vĩnh viễn không thể thay đổi.
Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác vào Việt Nam, phát triển theo hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, phù hợp quy luật phát triển, Việt Nam hoàn toàn có thể đi tắt đón đầu trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Đồng thời, lý luận này luôn được bổ sung, phát triển để phù hợp với điều kiện thực tiễn mới bởi những người mácxít chân chính.
Một là, Việt Nam lựa chọn con đường phát triển theo hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan, phù hợp quy luật phát triển của nhân loại, mặc dù Việt Nam với xuất phát điểm thấp về kinh tế. Tuy nhiên, trên nền tảng của lực lượng sản xuất hiện đại, chúng ta đã từng bước phát triển quan hệ sản xuất phù hợp. Đồng thời, từng bước cải tạo kiến trúc thượng tầng phù hợp với quan hệ sản xuất mới.
Hai là, xuất phát từ một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến đi lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, Việt Nam phải đánh đổ triệt để những lực cản từ tàn dư của xã hội phong kiến, chủ nghĩa thực dân trong kiến trúc thượng tầng. Đó là những thói quen, truyền thống lạc hậu, tư tưởng đặc quyền, đặc lợi, gia trưởng, cục bộ địa phương, trọng nam, khinh nữ,… ngăn cản sự tiến bộ. Chúng ta không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài. Mà như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đây là loại giặc thứ hai cùng thực dân, đế quốc và chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tư sản.
Ba là, Việt Nam chú trọng phát triển khoa học, công nghệ để phát triển lực lượng sản xuất. Đây cũng là đòi hỏi của sự phát triển kinh tế. Là nước đi sau nên Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển lực lượng sản xuất hiện đại bằng việc kế thừa các nước đi trước.
Có thể nói, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đã tạo ra bước đột phá trong toàn bộ quan điểm về xã hội loài người, trang bị phương pháp luận khoa học để phân tích, làm rõ quá trình hình thành, vận động và phát triển của lịch sử loài người. Cơ sở khoa học của học thuyết này cho đến nay qua thử thách của thực tiễn và thời gian vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác về lịch sử.
Với tinh thần khoa học và khách quan, chúng ta cần nghiên cứu, làm rõ những giá trị mang tính khoa học – thực tiễn bền vững làm cơ sở cho phương pháp luận và nhận thức đúng đắn, phù hợp về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là hết sức cần thiết. Sứ mệnh của chúng ta là tiếp tục lan tỏa học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác trên tinh thần một học thuyết khoa học, cách mạng và phát triển – hòn đá tảng cho xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người./.
CN. Hồ Thị Thùy Dung
Viên chức Khoa LLMLN, TTHCM
Diễn biến hòa bình “là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, nhằm lật đổ chế độ chính trị, xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng phương pháp phi quân sự”[1]. Đây là cuộc đấu tranh tổng lực, nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng Cộng sản; kết hợp “Diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ và răn đe quân sự, trong đó “Diễn biến hòa bình” là mũi chủ yếu.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Diễn biến hòa bình” là một trong những nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam:“Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta”[2]. Mục tiêu nhất quán của địch đối với cách mạng Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ nghĩa, làm cho Việt Nam chuyển hóa sang chế độ tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào nước ngoài.
Với phương châm: “Mềm, ngầm, sâu, trực tiếp, toàn diện”, chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay chủ yếu tiến hành trên các mặt: Chống phá toàn diện mọi lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao,…Trong đó:
- Chính trị tư tưởng, văn hóa là khâu đột phá.
- Kinh tế làm mũi nhọn.
- Dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền làm ngòi nổ.
- Ngoại giao hỗ trợ, hậu thuẫn.
- Quân sự răn đe và can thiệp khi có điều kiện, thời cơ.
Ở khâu đột phá này, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, hiện nay đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với Việt Nam. Đồng thời tập trung xuyên tạc nhằm loại bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa hòng làm suy yếu hệ thống chính trị, hình thành đa nguyên đa đảng, tiến tới làm sụp đổ chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch sử dụng các thủ đoạn móc nối, kích động nhiều đối tượng (bọn cơ hội chính trị, phần tử bất mãn, suy thoái, đối tượng bị mua chuộc,…) tham gia viết báo, bản tin, tuyên truyền trái với quan điểm, đường lối của Đảng. Chúng tiến hành theo phương châm “mỗi người chỉ là một giọt nước”, nhưng nhiều giọt nước sẽ ngấm dần, nhằm phân hóa nội bộ, chuyển hóa dần từ trong Đảng ra ngoài xã hội. Bên cạnh đó, chúng đẩy mạnh tuyên truyền gieo rắc “chủ nghĩa thực dụng”, văn hóa phương Tây, tạo tâm lý hưởng thụ, lối sống tư sản, qua đó từng bước tạo chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ, quan điểm của cán bộ, đảng viên, quần chúng, nhất là thế hệ trẻ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng.
Đứng trước âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc của chiến lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, xuyên suốt các kỳ Đại hội, Đảng ta xác định mục tiêu: “Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”[3]; “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”[4]. Vấn đề đặt ra cho mục tiêu chiến lược là phải giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm môi trường hòa bình ổn định lâu dài cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Phải lấy việc giữ vững ổn định chính trị làm nền tảng để đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, để củng cố quốc phòng, an ninh.
Để tăng cường đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa hiện nay,
Thứ nhất, tăng cường công tác lý luận, tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Giải pháp này, yêu cầu: Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới và Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Chú trọng công tác giáo dục truyền thống, tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống các luận điểm xuyên tạc, tuyên truyền nói xấu Đảng, Nhà nước, cách mạng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Thứ hai, tập trung chăm lo xây dựng và củng cố hệ thống chính trị vững mạnh ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng ở thời kỳ mới. Trong đó, xây dựng Đảng được xác định là khâu then chốt, tập trung xây dựng Đảng về các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Giữ vững đoàn kết cả trong và ngoài Đảng trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ. Tăng cường củng cố các cơ sở Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các chi bộ Đảng, làm cho mỗi Chi bộ thực sự là pháo đài vững chắc trong phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, làm cho Nhà nước ta đúng là công cụ để thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Xây dựng đội ngũ công chức thật sự là người công bộc tận tụy, người đầy tớ trung thành của Nhân dân, chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác.
Thư ba, xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Nâng cao nhận thức những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi văn hóa độc hại, đồi trụy, có nội dung xấu độc, loại trừ âm mưu thủ đoạn của địch làm suy yếu đi đến hòa tan bản sắc văn hóa dân tộc./.
[1] Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr.229.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XI, Nxb CTQG, HN.2011, tr.185.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, Nxb CTQG, HN.2006, tr.109.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XII, Nxb CTQG, HN.2016, tr.201.
ThS. Nguyễn Thị Thùy Giao
Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong những năm 1989 - 1991 là một tổn thất chưa từng có trong lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, dẫn đến hệ thống thế giới của các nước xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại. Từ sự sụp đổ ấy, nhiều bài học kinh nghiệm đau xót được rút ra cho các Đảng Cộng sản trên thế giới trong đó có Việt Nam cần có chủ trương, giải pháp nhằm giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ đã đẩy thế giới vào cuộc “chạy đua vũ trang” và “chiến tranh lạnh”. Đồng hành cùng với hai cuộc chiến vừa “công khai” vừa “lặng lẽ, âm thầm” nhưng vô cùng tàn khốc, quyết liệt đó là “Diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn, phương cách tinh vi nhằm thúc đẩy vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và Nhân dân, làm cho nội bộ lục đục, mất đoàn kết, gây mơ hồ, hoài nghi về chế độ, về vai trò lãnh đạo của Đảng. Chính sự phân ly giữa người dân và chính quyền các cấp là cơ hội để các thế lực thù địch và các lực lượng “ngầm” từng bước can thiệp sâu, gây ra mâu thuẫn trong nội bộ dẫn đến tha hóa, biến chất chế độ cộng sản; cổ động các phe phái đối lập nổi lên chống phá cách mạng, tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước ở Đông Âu. Việc tìm hiểu nguyên nhân của sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu là kinh nghiệm để các Đảng Cộng sản trên thế giới tránh vấp phải “sai lầm của lịch sử”, đặc biệt đối với Việt Nam hiện nay khi vấn đề suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đang diễn ra trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu ra là cấp thiết nhằm góp phần tìm ra các giải pháp để giữ vững mục tiêu, lý tưởng, nền tảng tư tưởng của Đảng và sự trường tồn của dân tộc.
Đầu tiên đối với Hunggari, lợi dụng sự non kém về bộ máy lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước, các thế lực thù địch, các lực lượng phản động đã thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và Nhà nước làm cho những giá trị Mỹ từng bước xâm nhập và luồng sâu vào nội bộ, từng bước làm tha hóa, biến chất chế độ cộng sản, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, mất niềm tin của đảng viên, nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa. Việc này, khiến người dân, kể cả đảng viên quay lưng không ủng hộ Đảng Lao động Hunggari (Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hunggari) mà hướng về phương Tây, kết thân với Mỹ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Hunggari.
Cùng thời gian ấy, sự lây nhiễm của “Diễn biến hòa bình” với quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã tràn vào trong nội bộ Ba Lan, làm cho không ít cán bộ, đảng viên của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan suy thoái về tư tưởng, chính trị, dao động, mất niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng để rồi tự đốt thẻ đảng, kịch liệt công kích, phản kháng, phủ nhận tính hợp pháp của quân đội Liên Xô ở Ba Lan. Các phe đối lập, các đảng phái ngóc đầu dậy tranh giành quyền lực, lũng loạn trong Đảng, trong Quốc hội và Chính phủ. Kết quả Công đoàn Đoàn kết chiếm 99% số ghế ở Thượng viện đã đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan.
Tương tự như Hunggari, Ba Lan, ở Tiệp Khắc, Bungari,… và Đông Đức cũng đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với đất nước, dẫn đến khủng hoảng và sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Đối với Liên Xô – là thành trì hệ thống xã hội chủ nghĩa, quê hương Cách mạng Tháng Mười Nga, vì vậy, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách nhằm “gieo hạt giống thức tỉnh và hủy diệt chế độ Xôviết” thông qua sách lược “mưa dầm thấm lâu”. Với chiêu bài “ngoại giao thân thiện” các thế lực thù địch đã đẩy mạnh truyền bá tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền, thực hiện luồn sâu, leo cao, từng bước can thiệp ngày càng sâu vào đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao và quốc phòng, an ninh của Liên Xô. Thông qua đó thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, làm cho nội bộ 15 nước cộng hòa và hệ thống chuyên chính vô sản đã được thiết lập khá vững chắc từ thời V.I.Lênin, từng bước biến đổi nhận thức, chuyển hóa về tư tưởng, gây mất niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào sứ mệnh lịch sử của Liên Xô và lý tưởng chủ nghĩa cộng sản. Chính sai lầm về đường lối chính trị trong thực hiện dân chủ hóa đến công khai, dư luận đa nguyên hóa, buông lỏng xây dựng lực lượng vũ trang, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản,… là nguyên nhân từng bước làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh quân sự của Liên Xô. Thêm vào đó, mâu thuẫn và xung đột giữa các dân tộc dẫn đến hiện tượng li khai của một số nước cộng hòa ra khỏi Liên bang Xôviết (ba nước vùng Ban Tích, Grudia, Mônđôva,… ), các đảng phái với nhiều xu hướng chính trị khác nhau trong xã hội ngóc đầu dậy chống chủ nghĩa xã hội, nhiều ủy viên Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng dao động về tư tưởng, quay lưng với Đảng Cộng sản, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội và công an, làm cho Đảng Cộng sản không còn đủ sức để “lãnh đạo chặt chẽ các phương tiện thông tin đại chúng, để cho báo, đài tùy tiện thông tin và phát biểu những quan điểm sai trái, tạo ra sự hỗn loạn về tư tưởng”1. Điều đó khiến cho quân đội Liên Xô mất phương hướng chính trị, không còn sức chiến đấu, đất nước ngày càng lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Ngày 21-12-1991 với sự thành lập liên minh Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) đã đánh dấu sự sụp đổ và tan rã của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết.
Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước ở Đông Âu là sụp đổ của một mô hình cụ thể chứ không phải sự sụp đổ của một hệ thống lý luận. Một trong những nguyên nhân sai lầm dẫn đến sự sụp đổ ấy là do các Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu mắc phải sai lầm chủ quan để cho quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong nội bộ Đảng, Nhà nước, làm cho cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, dao động, hoài nghi về những giá trị của chủ nghĩa xã hội, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, hạ thấp đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Qua sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước ở Đông Âu có thể thấy lực lượng bên ngoài là tác nhân kích thích quan trọng, nhưng lực lượng “ngầm” bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước là hạt nhân nòng cốt cho sự “chuyển hóa”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm biến chất chế độ xã hội chủ nghĩa, làm cho Đảng Cộng sản bị phân hóa, rối loạn, tự mâu thuẫn, không thế kiểm soát được tình hình; không thể lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là bài học vô cùng có ý nghĩa đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam cần nhận thức đúng đắn về vấn đề này để tăng cường củng cố niềm tin về chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hiện tượng rất nguy hiểm, giống như một thứ vi-rút độc hại lây lan nhanh và ngấm sâu vào cơ thể con người, dẫn tới những hệ lụy khó lường, làm thay đổi nhận thức theo chiều hướng từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đến mức cao hơn là thay đổi lập trường, quan điểm chính trị, đạo đức, lối sống, đi ngược lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; cổ súy, ủng hộ, tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động, thậm chí chuyển sang hàng ngũ kẻ thù, chống lại Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Vì vậy, việc giữ vững lập trường, kiên định mục tiêu, lý tưởng, nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề sống còn của Đảng, của chế độ, là cơ sở để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng để vững lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam tiến lên.
Thực tiễn, trong suốt quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng “nắm vững bản chất cách mạng, khoa học chủ nghĩa Mác-Lênin; kế thừa di sản quý báu về tư tưởng Hồ Chí Minh,... đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết có hệ thống sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, rút ra những kết luận đúng đắn, khắc phục những quan niệm sai lầm hoặc lỗi thời”2 .Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 (khoá VI) tháng 3-1989, Đảng khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta, xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng và Nhân dân ta, là sự lựa chọn sáng suốt của Bác Hồ và Đảng ta. Đại hội VII của Đảng đã “lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” của Đảng.
Qua hơn 30 năm đổi mới, nhờ kiên định mục tiêu, lý tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng nên cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn ra sâu rộng, Việt Nam cũng đang đứng trước với nhiều vấn đề lớn, phức tạp, thời cơ và thách thức đan xen. Trong khi đó bốn nguy cơ lớn nhất đối với Đảng cầm quyền mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng Internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nguy cơ từ bên trong do mặt trái của quyền lực gây ra nếu không thường xuyên cảnh giác sẽ có nguy cơ tự đánh mất mình, mất quyền lãnh đạo đối với đất nước. Vì thế, hơn bao giờ hết, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, luôn tin và có ý thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, muốn vậy cần phải:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức đầy đủ, sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.
Hai là, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; chỉ rõ những vấn đề cần bổ sung, phát triển. Tiếp tục nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ sự bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin của Hồ Chí Minh.
Ba là, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch,... góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bốn là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát; kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm; Tiếp tục tăng cường và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.
Năm là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng Internet, mạng xã hội. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật đối với các nhà mạng, cơ quan chủ quản báo chí, trang thông tin điện tử,… và các cá nhân lưu trữ cung cấp, đăng tải, phát tán thông tin giả mạo, sai sự thật.
Sáu là, xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh, đồng thời phát huy cao nhất trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
“Diễn biến hòa bình” là một “căn bệnh” nguy hiểm, có thể đánh hỏng chế độ, phá tan thành quả cách mạng, tuy nhiên các thế lực thù địch có thực hiện được ý đồ đen tối của chúng hay không, điều đó lại hoàn toàn phụ thuộc vào chính bản thân chúng ta vào sự kiên định nền tảng tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; chủ động, tích cực tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến, bổ sung, hoàn thiện các văn kiện đại hội đảng bộ các cấp; đặc biệt là văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm gột rửa cho sạch thói hư, tật xấu để uy danh của Đảng sống mãi trong lòng nhân dân, dân tộc. Đó là phương cách hiệu quả nhất để đất nước đổi mới, ổn định và phát triển bền vững.
Ghi chú
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2007, T. 49, tr.731.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb.Sự thật, H.1987, tr.125.
Huỳnh Nguyễn Đăng Khoa
Viên chức Khoa Lý luận cơ sở
Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là “Bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước”.
Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, các thế lực thù địch, phản động ngày càng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta. Trên lĩnh vực tư tưởng, chúng dùng mọi thủ đoạn để xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Để thực hiện điều đó, chúng lợi dụng Internet, mạng xã hội để tuyên truyền, kích động, chống phá cách mạng Việt Nam với những hình thức ngày càng tinh vi, phức tạp với mức độ nguy hiểm khó lường. Vì vậy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là nhiệm vụ vô cùng cấp bách hiện nay.
Các thế lực thù địch tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội vì nhiều lý do khác nhau. Thứ nhất, đó là do đặc điểm chung của mạng xã hội như tốc độ truyền tin nhanh, khả năng lan rộng cao, hiệu quả, miễn phí,…Thứ hai, do đặc điểm của người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay: Việt Nam là nước có số người dùng Internet và mạng xã hội thuộc tốp đầu trên thế giới, với hơn 62 triệu người dùng mạng xã hội (chiếm 64% dân số); Độ tuổi người sử dụng mạng xã hội trẻ, từ 18 đến 34 tuổi chiếm hơn 30%; Thời gian trung bình lên mạng xã hội hàng ngày là 2 giờ 32 phút; Tỷ lệ người dùng mạng xã hội cho công việc lên đến 45%. Ở Việt Nam hiện nay có nhiều mạng xã hội đang hoạt động phổ biến như: Facebook, Zalo, Tiktok, Youtube, Instagram, Twitter,… đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất thế giới.
Cùng với những giá trị tích cực thì mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái của nó đối với sự phát triển của đất nước. Thực tế cho thấy, bên cạnh các thông tin bổ ích, có giá trị đối với xã hội thì còn có không ít những thông tin, hình ảnh có nội dung xấu độc, có thông tin sai trái như: Phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới; Chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Vu cáo, bịa đặt, bôi xấu các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của chúng ta trên mọi lĩnh vực. Đặc biệt, chúng tập trung tấn công, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng: Các thế lực thù địch cho rằng việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì chủ nghĩa Mác-Lênin là tư tưởng ngoại lai, chỉ phù hợp với một chừng mực nào đó với trình độ, lực lượng sản xuất và văn hóa Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với truyền thống dân tộc Việt Nam; chúng đưa ra luận điệu rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, điều kiện hiện nay không còn phù hợp nữa, nên để lực lượng mới đưa đất nước tiến lên;...
Các thế lực thù địch chống phá chúng ta trên mạng xã hội thông qua nhiều hình thức tinh vi, phức tạp, khó lường như: Những trang web độc hại được liên kết vào các trang mạng xã hội có nội dung xấu, độc được chúng tung lên Internet, mạng xã hội những tin bài, đoạn video có nội dung xấu với tần suất ngày càng dày đặc. Chúng tập trung vào mục đích phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo ra tư tưởng chống Việt Nam trên mạng xã hội.
Tác hại của những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội do các thế lực thù địch thực hiện đã có tác động tiêu cực đến tình hình dư luận xã hội, tư tưởng, gây tâm lý nghi ngờ, hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII, thời gian qua, đội ngũ đảng viên, giảng viên, viên chức của trường luôn tích cực tham gia đấu tranh, tuyên truyền, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung và trên mạng xã hội nói riêng thông qua những bài giảng, bài viết, thông tin thời sự, sinh hoạt chuyên đề, chia sẻ những bài viết chính thống trên các trang mạng xã hội,…Từ đó, chủ động phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tăng hiệu quả công tác tuyên truyền, đấu tranh phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần ổn định tư tưởng trong học viên, cán bộ, đảng viên, viên chức, người lao động nhà trường.
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mạng xã hội trong thời gian tới, chúng ta cần phải:
Thứ nhất, cần nâng cao kỹ năng và ý thức trách nhiệm của mình trong việc sử dụng Internet, mạng xã hội. Tận dụng những ưu điểm, lợi thế và khắc phục những hạn chế của bản thân trong việc sử dụng mạng xã hội.
Thứ hai, khi thể hiện ý kiến, bình luận các nội dung trên mạng xã hội, chúng ta phải dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tránh chủ quan, duy ý chí, thể hiện thái độ, cảm xúc cá nhân khi bình luận, phát ngôn.
Thứ ba, chủ động, tự giác tham gia phân tích, bình luận, chia sẻ các bài viết về những kết quả tích cực đạt được của đất nước, của địa phương; giới thiệu những tấm gương điển hình, tiêu biểu của đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức. Từ đó, làm cho trang cá nhân của mình thành một trang thông tin khách quan, tích cực, chính xác.
Thứ tư, xác định đúng nội dung trên những trang web, những trang fanpage, facebook cá nhân, những video mang tính xấu, độc. Từ đó, kịp thời đưa ra các luận điểm, dẫn chứng thực tế thuyết phục phản bác lại, hạn chế sự lan tỏa, kịp thời chặn đứng những thông tin sai trái. Do đặc điểm của mạng xã hội là những tin ngắn và tâm lý của người sử dụng mạng xã hội là cập nhật thông tin nhanh nên chúng ta chú ý viết bài không quá dài, kết hợp với những hình ảnh thực tế, văn phong thu hút người đọc. Đồng thời, những bài viết phải được chia sẻ rộng khắp, tạo sự lan tỏa trên các trang mạng xã hội, không bó hẹp trong phạm vi hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội.
Thứ năm, không ngừng tìm tòi, học hỏi, nâng cao hiểu biết về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trường, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tích lũy kiến thức thực tế, rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ vững bản lĩnh chính trị, tính tiên phong gương mẫu của người cán bộ, đảng viên.
Tóm lại, Các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đã và đang lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền, xúi giục, phá hoại sự đoàn kết trong nội bộ, phá hoại công cuộc đổi mới, hòng làm thất bại thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta với mức độ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Do vậy, đội ngũ đảng viên, giảng viên, viên chức Trường Chính trị Bến Tre cần phải giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, khôn khéo, linh hoạt, kiên quyết đấu tranh chống lại các thế lực thù địch trên mọi mặt trận, nhất là mạng xã hội. Nhằm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp trong việc ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, rèn luyện. Trải qua 88 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh luôn kiên định phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, không ngừng lớn mạnh, làm tốt nhiệm vụ đoàn kết, tập hợp, giáo dục, vận động thanh niên tham gia các công việc chung của đất nước.
Tuy nhiên, hiện nay xã hội không khỏi băn khoăn trước thực trạng một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng “nhạt Đảng”, “khô Đoàn”, “xa rời chính trị”, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Thanh niên bị các thế lực xấu, thù địch lợi dụng, tác động, lôi kéo, kích động đã có những việc làm đi ngược lại bản chất, truyền thống vẻ vang của Đoàn và trái với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng và dân tộc.
Từ thực tế tình hình trên, Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” là một tất yếu khách quan vừa thể hiện quan điểm kiên định nhất quán trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vừa tổ chức đấu tranh phản bác các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tấn công vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vạch trần các luận điệu chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Nghị quyết đã khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là: “Bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước”.
Chính vì vậy, để phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Đoàn Thanh niên cần nhận thức, nêu cao tinh thần trách nhiệm góp phần thiết thực thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hiện nay, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần nắm rõ những nội dung và phương diện chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch:
Một là, phủ định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, chống phá sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực.
Ba là, phủ nhận những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà dân tộc ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bốn là, bôi nhọ cá nhân các lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng; lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để xuyên tạc bản chất của Đảng, ca ngợi chủ nghĩa tư bản với những giá trị khác nhau của nó.
Về phương thức chống phá: Các thế lực thù địch sử dụng truyền thông đại chúng, đặc biệt là xuất bản báo chí ở nước ngoài bằng đĩa chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam để xuyên tạc Việt Nam. Bản chất, mục đích của các thế lực thù địch không thay đổi, nhưng thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng các sai sót trong quản lý, đòi xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử, phủ nhận các thành tựu đã đạt được của các cơ quan, đơn vị, để kích động, biểu tình trái phép.
Từ những nhận diện trên, có thể thấy, vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thực chất là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với nền tảng tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ bằng lý luận, lời nói hay nghị quyết mà phải bằng hành động thực tiễn, “nói đi đôi với làm”, xây dựng, chỉnh đốn Đảng thành công để Đảng ta thực sự là một chính đảng, khoa học, cách mạng và nhân văn, của giai cấp công nhân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.
Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo Đoàn Thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, Đoàn Thanh niên cần triển khai đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản, trọng tâm như:
Thứ nhất, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho Đoàn Thanh niên.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên, góp phần quan trọng vào quá trình khẳng định những giá trị đạo đức tốt đẹp mà mỗi thanh niên cần hướng tới và thức tỉnh một bộ phận thanh niên đang sống thiếu lý tưởng, thiếu niềm tin, thiếu lòng tự hào và kiêu hãnh dân tộc, “tự đề kháng”, “tự miễn dịch” cho thanh niên trước những biểu hiện tiêu cực, sự chống phá và xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mạng xã hội.
Muốn làm tốt được nhiệm vụ trên, Đoàn Thanh niên phải coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, học tập, nghiên cứu và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn công tác và đời sống thanh niên.
Điển hình là thông qua các hình thức sinh hoạt của Đoàn, qua việc khai thác hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng và truyền thông mạng, qua các hoạt động, phong trào của mình, Đoàn khéo léo lồng ghép tuyên truyền, cụ thể hóa Chỉ thị 42-CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030”, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, quyết định số 134-QĐ/TWĐTN-BTG ngày 07/11/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn về việc ban hành Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi giai đoạn 2018-2022”. Đồng thời, có kế hoạch tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới của Đoàn Thanh niên. Thành lập và phát triển các mô hình câu lạc bộ “Lý luận trẻ” nhằm cụ thể hóa Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Đây cũng là diễn đàn, sân chơi giúp Đoàn Thanh niên bày tỏ suy nghĩ, nhận xét của cá nhân mình đối với những vấn đề giới trẻ quan tâm hiện nay đặc biệt trên mạng xã hội, các sự kiện chính trị - xã hội trong nước và quốc tế nổi bật, các vấn đề cần đặt ra đối với tổ chức Đoàn Thanh niên trong giai đoạn hiện nay và cùng nhau thảo luận, phân tích, nhận diện đúng sai để hiểu được vấn đề một cách đúng đắn, thấu đáo và cặn kẽ. Đồng thời, tuyên truyền, lan tỏa các thông tin hay, những tấm gương người tốt, việc tốt, những quan điểm đúng đắn để nhân rộng những giá trị nhân văn, thúc đẩy xã hội tốt đẹp hơn.
Thứ hai, chăm lo, củng cố, xây dựng tổ chức Đoàn thực sự vững mạnh cả về tư tưởng, chính trị, tổ chức và hành động.
Trong công tác xây dựng Đoàn, chất lượng cán bộ Đoàn là trọng tâm, nâng cao chất lượng cơ sở Đoàn là đột phá. Vì vậy, chúng ta cần hết sức coi trọng công tác xây dựng tổ chức Đoàn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kế thừa kế cận của Đảng, thực hiện tốt chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần đặc biệt chú ý đến đội ngũ cán bộ Đoàn làm công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên, sống có có đạo đức, có trách nhiệm, biết cống hiến, hi sinh cho xã hội để tạo sự lan tỏa trong thanh niên. Thường xuyên bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng bằng đội ngũ Đảng viên kết nạp từ những đoàn viên ưu tú và cán bộ trẻ có chất lượng giới thiệu cho Đảng. Tổ chức cho Đoàn Thanh niên tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phòng chống tham nhũng, lãng phí, đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng với hình thức phù hợp.
Thứ ba, đổi mới và nâng cao hiệu quả các phong trào, chương trình hành động của Đoàn, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên, khẳng định vai trò của Đoàn trong đồng hành, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên
Với tinh thần “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”, phong trào của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần tổ chức đa dạng các hình thức tuyên truyền, giáo dục trên khắp các mặt trận quan trọng như: Học tập, nghiên cứu khoa học; lao động; sản xuất; kinh doanh; bảo vệ Tổ quốc; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, v.v..
Triển khai 3 chương trình đồng hành với thanh niên: Đồng hành với thanh niên trong học tập”, “Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần”. Qua đó, góp phần phát triển thanh niên toàn diện, khẳng định vai trò của Đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên.
Thứ tư, xây dựng văn hóa mạng xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc sử dụng internet của tổ chức Đoàn Thanh niên.
Thực trạng sử dụng mạng xã hội của thanh niên Việt Nam hiện nay với đầy đủ các gam màu sáng – tối, trắng – đen, tích cực – tiêu cực. Vì vậy, để xây dựng được thế hệ trẻ giàu lòng yêu nước, có tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn, đặc biệt là thanh niên nông thôn, việc tham gia mạng xã hội làm sao chủ động nhất, hiệu nhất là hết sức quan trọng.
Tổ chức Đoàn cần thành lập các trang, các nhóm của thanh niên trên mạng xã hội, thông qua đó tổ chức các chiến dịch truyền thông, xây dựng các chuyên trang định hướng dư luận, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái thù địch trên mạng xã hội; tổ chức các cuộc thi, các hoạt động cộng đồng trên mạng xã hội để thu hút, tập hợp thanh niên và vận động nguồn lực xã hội cho công tác Đoàn. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “xây” là cơ bản “chống” phải quyết liệt, hiệu quả qua mạng xã hội, tuyên truyền, vận động thanh niên ứng xử văn hóa trên mạng xã hội, có trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội và nâng cao năng lực sử dụng mạng xã hội của các cấp Đoàn, cán bộ đoàn viên thanh niên.
Thực hiện đồng bộ, quyết liệt, sáng tạo các nhiệm vụ và giải pháp trên, không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh góp phần thiết thực vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Năm 2020 là năm kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 75 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 45 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, là năm tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chung sức, đồng lòng, thực hiện thắng lợi Di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.
Nền tảng tư tưởng của Đảng
Kế thừa, bổ sung và phát triển những tư tưởng của C.Mác & Ph.Ăngghen về đảng cộng sản trong điều kiện mới, V.I.Lênin đã xây dựng Học thuyết về “đảng kiểu mới” của giai cấp công nhân. Người khẳng định: “Chỉ đảng nào được lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò người chiến sĩ tiền phong” (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1975. t6, tr. 32). “Học thuyết Mác là một học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là học thuyết hoàn bị và chặt chẽ, nó cung cấp cho mọi người một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản. Nó là người kế thừa chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp” (V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1980. t23, tr. 50). Vì vậy, “đảng kiểu mới” phải lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động.
Nhận thức được bản chất cách mạng, khoa học và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh đã đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, tích cực chuẩn bị các tiền đề (chính trị, tư tưởng và tổ chức) để thành lập đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam – Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính vì vậy, có thể khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự kết hợp sáng tạo giữa chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Trong Hội nghị thành lập Đảng mùa xuân năm 1930, trên cơ sở “lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc” (ĐCSVN: Văn Kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998, t2, tr.100) và sự sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, Đảng đã “…chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (Sđd, t2, tr.2).
Trên nền tảng tư tưởng và con đường cách mạng đúng đắn đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại. Đó thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Những thắng lợi vĩ đại ấy đã đưa “nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới”. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên thực tế không chỉ là là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng mà còn là nền tảng tư tưởng – “tài sản tinh thần to lớn và quý giá” của cả dân tộc ta.
Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, đôi lúc Đảng vẫn còn mắc khuyết điểm, sai lầm, làm cho cách mạng Việt Nam có lúc gặp khó khăn. Nguyên nhân sâu xa của những khuyết điểm, sai lầm đó là do giáo điều hoặc chưa thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội, sự tan rã của các cộng sản ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây do giáo điều hoặc chưa thấm nhuần sâu sắc hoặc xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy không thể đánh giá phiến diện, “đánh tráo khái niệm” hoặc cố tình hoặc ngộ nhận, định kiến, cực đoan nhằm để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Với thái độ khách quan, khoa học và cách mạng chúng ta có thể khẳng định rằng: Khi nào đứng vững, kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì Đảng giữ được vai trò lãnh đạo, cách mạng thắng lợi. Ngược lại, không kiên trì, không vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì sẽ dẫn đến sai lầm, khuyết điểm, cách mạng gặp khó khăn, thậm chí là thất bại. Vì vậy, việc kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là đòi hỏi bức thiết của cách mạng, là yêu cầu mang tính sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân ta.
2. Nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả “học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch” và góp phần “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” hiện nay.
2.1. Tình hình – Vấn đề đặt ra
Trong quá trình hoạt động của mình, Đảng ta luôn khẳng định, giữ vững và kiên trì nền tảng tư tưởng; nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, vai trò và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được nâng lên. Đội ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị và năng lực tư duy. Công tác học tập, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, vận dụng và phát triển lý luận đã và đang giải đáp nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra. Song nhìn chung, chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa cao; tri thức kinh điển chưa được coi trọng đúng mức; một số quan điểm, học thuyết của các nhà kinh điển chậm được nghiên cứu, nhận thức một cách đầy đủ và chậm được bổ sung, phát triển để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chưa kịp thời phát hiện, nghiên cứu thấu đáo những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn trong nước và thế giới. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ chưa bị đẩy lùi. Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao.
Mặt khác, hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng truyền thông xã hội tập trung vào việc phủ định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành tựu của Đảng, từ đó đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; ngoài ra các thế lực thù địch còn tập trung bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhiều hình thức tinh vi. Đặc biệt, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ kéo theo sự phát triển bùng nổ của mạng Internet và hoạt động của các mạng xã hội toàn cầu cùng những thông tin xấu, độc nhanh chóng được lan truyền; các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới xuyên tạc nền tảng tư tưởng, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế của nhân dân ta…
2.2. Nhiệm vụ, giải pháp
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng là nguyên tắc của Đảng, là nguyên nhân mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc kiên định nền tảng của Đảng trở thành vấn đề vô cùng hệ trọng. Trong đó, Trung ương Đảng đã nhấn mạnh 3 nội dung cơ bản như sau:
2.2.1. Ngày 30/10/2016, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW xác định 4 nhóm giải pháp để “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”. Trong đó, Nghị quyết đã nhấn mạnh:
- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng.
- Tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
- Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc .
- Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái…
2.2.2. Ngày 09/02/2018 Ban Bí thư khóa XII ban hành Chỉ thị số 23-CT/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Trên cơ sở mục tiêu, quan điểm chung, Chỉ thị đã yêu cầu phải thực hiện những nội dung cụ thể như sau:
- Các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.
- Tiếp tục đổi mới phương thức triển khai, phương pháp tiếp cận nghiên cứu trong công tác lý luận. Khẳng định mạnh mẽ và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn nước ta.
- Đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương pháp học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng phù hợp với từng đối tượng, phát huy tính tự giác, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị và phương pháp công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ.
- Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền về giá trị, những nội dung cơ bản, cốt lõi và những nội dung được Đảng ta vận dụng, phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phát huy sức mạnh tổng hợp của báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng và các kênh thông tin khác.
- Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phản bác có hiệu quả, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch. Đa dạng hóa hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
2.2.3. Đặc biệt, ngày 22/10/2018 Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW "Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới". Nghị quyết khẳng định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đồng thời, Nghị quyết nêu bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trọng tâm là:
- Tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.
- Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.
- Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới.
- Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội. Trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội…
Thực tiễn cách mạng đã chứng minh hùng hồn bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn cũng như sức sống, ý nghĩa - giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay là tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả “học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”, “đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch” và góp phần “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động là đặt trong sự kiên định sáng tạo và biện chứng của sự phát triển. Dùng cơ sở lý luận, lập trường, quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đánh giá một cách khách quan, toàn diện những thành tựu và hạn chế của chặng đường cách mạng đã qua; tiếp thu thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tổng kết những kinh nghiệm thành công và không thành công của Đảng để tìm ra những hình thức, bước đi, giải pháp đúng đắn, giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra là yêu cầu bức thiết của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị để đưa nước ta sơm đạt mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, từng bước vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội./.
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991);
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị BCHTW lần thứ 4 khóa XII, ngày 30/10/2016 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”;
Đảng Cộng sản Việt Nam, Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”;
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới;
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình TCLLCT-HC, Phần “Những vấn đề cơ bản về đảng cộng sản và LSĐCSVN”, Nxb Lý luận chính trị, H.2017.
ThS. Trần Văn Hòa
Phó Trưởng Khoa lý luận cơ sở
Học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng”, những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, được bổ sung, phát triển trong bối cảnh mới. Nội dung này, được Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học cấp Nhà nước với chủ đề: “Học thuyết giá trị thăng dư của chủ nghĩa Mác-Lênin: Những giá trị cốt lõi, những luận điểm đã bị lịch sử vượt qua, sự bổ sung, phát triển trong bối cảnh mới”. C. Mác - Nghiên cứu sự sản xuất ra giá trị thặng dư, nhằm vạch rõ nguồn gốc và bản chất của nó, từ đó vạch rõ bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa, v.v… Sau gần 2 thế kỷ, C.Mác đã phát minh ra học thuyết giá trị thặng dư, nhờ đó tìm ra và nhận thức rõ quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho cuộc đấu tranh xóa bỏ mọi bất công xã hội, triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người.
Tuy nhiên, ở đây, người viết chỉ tập trung bàn về việc máy móc hiện đại trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có làm thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản như những luận điệu xuyên tạc và phủ nhận của các thế lực thù địch về vai trò lịch sử của Học thuyết. Người ta cho rằng, trước kia chỉ có công nhân “sản xuất” mới tạo ra giá trị gia tăng, bây giờ “chính tri thức chứ không phải lao động mới là nguồn gốc của giá trị thặng dư”. Trong đó, máy móc là thứ tạo ra giá trị thặng dư chứ không phải sức lao động của con người tạo ra.
Vì vậy, tư bản ngày nay không còn bóc lột giá trị thăng dư, nếu có thì chủ nghĩa tư bản chỉ còn bóc lột “người máy”. Vì trong các xí nghiệp hiện đại, tự động hóa, quá trình sản xuất ra sản phẩm không cần hoặc cần rất ít lao động sống, nhưng giá trị do các xí nghiệp này tạo ra tăng gấp bội so với các xí nghiệp cổ điển dùng rất nhiều công nhân, v.v. Trong thực tế, đời sống công nhân có nâng lên do thu nhập cũng tăng thông qua việc tham gia cổ phần trong các nhà máy, xí nghiệp tư bản.
Các nhà kinh tế học tư sản trước đây và hiện nay hay cho rằng mọi công cụ lao động, mọi tư liệu sản xuất đều là tư bản. Nên họ ngộ nhận tư bản là “vật” và tư bản là một phạm trù vĩnh viễn. Thực ra, bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, nó chỉ là yếu tố cơ bản của sản xuất trong bất cứ xã hội nào. Tư liệu sản xuất chỉ trở thành tư bản khi nó trở thành tài sản của nhà tư bản và được dùng để bóc lột lao động làm thuê. Khi chế độ tư bản bị xóa bỏ thì tư liệu sản xuất không còn là tư bản nữa. Như vậy, tư bản không phải là một vật mà là một quan hệ sản xuất xã hội nhất định giữa người và người trong quá trình sản xuất, nó có tính chất tạm thời trong lịch sử.
Vì vậy, chúng ta cần bàn thêm về tư liệu sản xuất (máy móc, trang thiết bị, nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất) được C. Mác kí hiệu là C gồm có C1 và C2. Nó có đặc điểm là trong quá trình sản xuất, giá trị của chúng được bảo tồn và chuyển dịch nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm. Nghĩa là bản thân nó không tự tạo ra một lượng giá trị mới trong đó có giá trị thăng dự, khác với quan điểm tư sản cho rằng mọi tư liệu sản xuất đều tạo ra giá trị thặng nên tư bản không bóc lột sức lao động, vì nó do máy móc tạo ra. Giá trị tư liệu sản xuất được bảo tồn dưới hình thức giá trị sử dụng mới. Hàng hóa máy móc, nguyên nhiên vật liệu ban đầu được mua trên thị trường còn dưới dạng đầu vào của quá trình sản xuất. Khi đưa vào sản xuất hàng hóa tiêu dùng, thì chúng biến đổi thành một sản phẩm mới phục vụ cho tiêu dùng. Và hàng hóa này khi đi vào tiêu dùng thì người tiêu dùng chỉ sử dụng giá trị sử dụng của chúng (giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa).
Ví dụ, trang bị 2 máy vi tính hiện đại nhất hiện nay cho 2 lao động có trình độ công nghệ thông tin khác nhau, thì kết quả năng suất lao động sẽ khác nhau. Nghĩa là người có trình độ và thành thạo việc sử dụng máy tính cao sẽ cho năng suất lao động cao. Ngược lại, người có trình thấp, việc sử dụng máy tính chưa thành thạo thì năng suất lao động sẽ thấp. Điều đó đã chứng minh năng suất lao động là do sức lao động của con người tạo ra trên cơ sở quyết định của trình độ tay nghề. Máy móc chính là yếu tố của quá trình lao động, là phương tiện giúp con người tạo ra năng suất, chứ máy móc không quyết định việc tạo ra năng suất lao động.
Cho nên có thể khẳng định, tư bản bất biến (máy móc, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu) không tạo ra giá trị thăng dư, nó là điều kiện cần thiết để cho quá trình sản xuất giá trị thặng dư được diễn ra. Nguồn gốc tạo giá trị thặng là sức lao động của người làm thuê.
Vậy, sức lao động được biểu hiện như thế nào? Có tham gia gì vào quá trình sản xuất giá trị thặng dự. Tư bản khả biến là một bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động (trả lương, thuê mướn công nhân), đại lượng của nó thay đổi trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư và ký hiệu là v. Tư bản khả biến có thể tạo ra sự biến đổi về giá trị, có vai trò quyết định trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dự, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên.
Để sản xuất ra giá trị thặng dư, nhà tư bản phải ứng trước một tư bản ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động. Trong quá trình sản xuất, giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công nhân chuyển vào sản phẩm mới, lượng giá trị của chúng không đổi. Bộ phận tư bản ấy được gọi là tư bản bất biến. Nhưng đối với bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một giá trị mới không chỉ bù đắp đủ giá trị sức lao động của công nhân mà còn tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Như vậy, bộ phận tư bản này đã có sự biến đổi về lượng và được gọi là tư bản khả biến.
Ngày nay, với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), lực lượng sản xuất phát triển như vũ bão đã tiến mạnh vào các ngành sản xuất vật chất của xã hội; của cải vật chất tạo ra thật nhiều đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú, đa dạng cho con người. Điều đó làm cho con người dễ nhầm tưởng máy móc trực tiếp và quyết định tạo ra năng suất, cũng đồng tạo ra giá trị thặng dư, nên tư bản ngày nay không còn bóc lột công nhân làm thuê.
Chính vì lẽ đó, các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật, đặc biệt là đòi xét lại học thuyết Mác nói chung, cụ thể là học thuyết về giá trị thăng dư, họ cho rằng nó không còn đúng, đã lạc hậu, lỗi thời. Có chăng Học thuyết chỉ đúng trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, ngày nay đã chấm dứt vai trò lịch sử của nó. Đây là những quan điểm sai trái, thiếu tính khoa học, tính thực tiễn, thậm chí phản động, phản cách mạng.
Bản thân sản xuất giá trị thăng dư là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản. Nghĩa là ở đâu có chủ nghĩa tư bản thì ở đó có sự tồn tại của giá trị thăng dư. Giá trị thăng dư là cơ sở tồn tại, phát triển của chủ nghĩa tư bản, không những phản ánh mục đích mà cả phương pháp, thủ đoạn và phương tiện để đạt mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Về mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là sản xuất ra giá trị sử dụng và cũng không phải vì sản xuất ra giá trị nói chung, mà sản xuất ra giá trị thặng dư. Đối với tất cả nhà tư bản, giá trị thăng dư càng nhiều càng tốt.
Về phương pháp và thủ đoạn bóc lột công nhân làm thuê để có giá trị thặng dư ngày càng lớn là kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng năng suất lao động. Phương tiện để đạt được mục đích trên là ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất trên cơ sở hình thành và phát triển nền đại công nghiệp cơ khí. Do vậy, sản xuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nó là một bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhân làm thuê tạo ra và thuộc về nhà tư bản, là lao động không công của công nhân làm thuê, thể hiện bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Tóm lại, do sự tác động của quy luật giá trị thặng dư nên sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa diễn ra dưới hình thức mâu thuẫn đối kháng. Sự tác động của quy luật này làm cho mâu thuẫn cơ bản – mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản và với toàn bộ mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, tạo cơ sở kinh tế, xã hội quyết định địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản.
Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược và từng bước biến nước ta từ một nước độc lập thành một “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”. (HCM: Toàn tập, Nxb. CTQG, H.2002, tập 10, tr.3). Mặc dù triều đình nhà Nguyễn bạc nhược đầu hàng, cam tâm làm tay sai cho thực dân; nhưng với tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường, bất khuất, nhân dân ta liên tục đứng lên đấu tranh giành độc lập. Tuy nhiên cả những phòng trào theo tư tưởng phong kiến lẫn khuynh hướng dân chủ tư sản đều bị thực dân Pháp dìm trong bể máu. Cách mạng Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, con đường cứu nước, giải phóng dân tộc bị bế tắc đã đặt ra và yêu cầu phải có con đường cứu nước mới dưới ánh sáng của một hệ tư tưởng tiên tiến.
Trong bối cảnh ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Với “linh khiếu” và “nhãn quan” chính trị đặc biệt, Người sang phương Tây đề tìm xem “nước Pháp và các nước khác làm như thế nào để về giúp đồng bào ta”… Năm 1919, Hội nghị Véc - Xây với Học thuyết Uynxơn (do Tổng thống Mỹ Thomas Woodrow Wilson công bố) đã khước từ những “Yêu sách của nhân dân An Nam” đã làm cho Người nhận ra rằng: “Học thuyết Uynxơn chỉ là một trò bịp lớn” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2011, t.1, tr.416). “Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của chính bản thân mình”. (Trần Dân Tiên: Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự Thật, H.1975, tr.33) Vì vậy, năm 1920, khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lê-nin, Người đã “vui mừng đến phát khóc lên” vì đã tìm thấy “cái cần thiết cho chúng ta” và “con đường giải phóng chúng ta” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb.CTQG, H. 2011, tập 10, tr.127) Từ đó, Người đã khẳng định: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” và “phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin” (tức là chủ nghĩa Mác – Lênin). (Sđd, tập 2, tr.304)
Trong Hội nghị thành lập Đảng vào mùa xuân năm 1930, trên cơ sở “lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”, Đảng đã “… chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998,t2, tr.2). Đó chính là con đường cách mạng Việt Nam và là nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh – Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Trên nền tảng tư tưởng và con đường cách mạng đúng đắn đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại, đánh thắng các đế quốc xâm lược và tay sai, đưa nước ta từ một “xứ” thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Điều đó không những khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở ra đời của Đảng ta, nguồn gốc của mọi thắng lợi của cách mạng nước ta mà còn chứng minh hùng hồn bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn cũng như sức sống, giá trị to lớn và bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên thực tế là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, là “tài sản tinh thần to lớn và quý giá” của cả dân tộc ta.
Thế nhưng, “một bộ phận không nhỏ” cán bộ, đảng viên có những biểu hiện “suy thoái về tư tưởng chính trị”, “tư diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các thế lực thù địch, phản động, phá hoại đã cố tình phủ nhận sự thật lịch sử; bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, họ khơi dậy sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô trước đây và khai thác triệt để các điều kiện trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ với sự phát triển bùng nổ của mạng Internet và hoạt động của các mạng xã hội toàn cầu cùng những thông tin xấu, độc nhanh chóng được lan truyền; các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới xuyên tạc nền tảng tư tưởng, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cần phải khẳng định rằng: Đó chỉ là trò xuyên tạc lịch sử, kích động tâm lý với mưu đồ đen tối nhằm làm giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng chính là làm suy yếu dẫn đến tan rã Đảng. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng chính là tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ thành quả của cách mạng; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Kiên định và bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; không những là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp mà còn là trách nhiệm và lương tâm của các nhà khoa học chân chính và từng người dân Việt Nam yêu nước. Trong đó chúng ta cần thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau đây:
- Tiếp tục làm sáng tỏ những nội dung cơ bản, giá trị to lớn, bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản, giá trị to lớn bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.
- Kiên quyết đấu tranh kịp thời, sắc bén và có hiệu quả đối với những quan điểm sai trái, thù địch núp dưới nhiều danh nghĩa, chiêu bài nguy hiểm, thâm độc, trắng trợn hòng xuyên tạc, phủ nhận các giá trị trường tồn, phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, phải “ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.
- Phải thường xuyên tổng kết thực tiễn đổi mới của đất nước, tiếp thu tri thức tinh hoa của dân tộc, nhân loại; vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện các quyết sách chính trị trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.
- Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước.
- Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên Internet, mạng xã hội; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng Internet, mạng xã hội. Chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của Internet, mạng xã hội…
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội dù có những bước quanh co, thăng trầm. Sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta sẽ tiếp tục phát triển dù còn những khó khăn, thách thức; nhưng những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn luôn bền vững và mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta. Vì vậy, trách nhiệm cao nhất, lập trường chân chính, thái độ đúng đắn nhất của chúng ta hiện nay trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; dùng cơ sở lý luận, lập trường, quan điểm đó để đánh giá một cách khách quan, toàn diện những thành tựu và hạn chế của chặng đường cách mạng đã qua; tổng kết những kinh nghiệm thành công và không thành công để tìm ra những hình thức, bước đi, giải pháp đúng đắn, giải quyết được những vấn đề thực tiễn đặt ra để đưa nước ta từng bước vững chắc tiến tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và đường hoàng “sánh vai với các cường quốc năm châu”./.

