Nghiên cứu trao đổi

Ngày Đăng :
             Thạc sĩ Nguyễn Thị Yến
     Trưởng khoa Dân vận

Trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia dân tộc đều có quyền lựa chọn con đường, sự phát triển cho chính mình sao cho phù hợp với xu thế chung của thời đại, với quy luật khách quan của lịch sử và nhu cầu, khát vọng của dân tộc. Do vậy, Việt Nam đi lên CNXH là một tất yếu khách quan hoàn toàn phù hợp với xu thế chung đó.

Mặt khác, việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam còn là yêu cầu của lịch sử, là khát vọng của dân tộc đã được lịch sử lựa chọn từ những năm 1930, đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn. Hơn 80 năm qua, Đảng ta vẫn kiên định nhất quán con đường đi lên CNXH trước những biến đổi sâu sắc của thời đại, đã biểu hiện bản lĩnh vững vàng của Đảng và niềm tin tuyệt đối của dân tộc về con đường đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.

Trước thời cơ và vận hội, nguy cơ và thách thức đan xen nhau thì việc tìm hiểu nhằm nâng cao nhận thức về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là việc làm mang tính cấp thiết, có tầm quan trọng đặc biệt đối với nhận thức và hành động của mỗi chúng ta trong giai đoạn hiện nay.

1. ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM, SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN

1.1. Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử

Sự phát triển của xã hội loài người là sự thay thế kế tiếp nhau của các HT KT-XH như một quá trình lịch sử tự nhiên. Loài người đã và đang tồn tại qua năm HT KT-XH từ thấp đến cao: Từ HT KT-XH CSNT đến HT KT-XH CSCN mà CNXH là giai đoạn đầu. Chính vì vậy, Việt Nam đi lên CNXH tức là đi vào giai đoạn đầu của HT KT-XH CSCN. Vào năm 1930 trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng ta đã khẳng định: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng rồi đi tới xã hội cộng sản là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử.

Tuy nhiên, không phải bất cứ một quốc gia, dân tộc nào cũng phải lần lượt, tuần tự qua đủ năm HT KT-XH, mà có những quốc gia dân tộc bỏ qua một hoặc hai HT KT-XH nhưng vẫn bảo đảm sự phát triển. Ví dụ như Mỹ đi từ Bộ tộc lên TBCN bỏ qua chế độ CHNL, phong kiến; Australia đi từ CHNL lên TBCN bỏ qua chế độ phong kiến song các nước này hiện tại vẫn phát triển rất cao. Điều đó được khẳng định rằng: Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN với tư cách một chế độ xã hội hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử.

* Xem xét vấn đề bỏ qua

- CNM-LN cho rằng bỏ qua một HT KT-XH, một chế độ xã hội phải có sự giúp đỡ của các nước tiên tiến đi trước.

- ĐCSVN khẳng định: Quá độ lên CNXH ở Việt Nam bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN với tư cách một chế độ xã hội.

- Vấn đề ở đây là bỏ qua cái gì?  Bỏ qua như thế nào? Bỏ qua được không?

Trước hết, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN với tư cách một chế độ xã hội ở Việt Nam là bỏ qua cái gì? Chính là bỏ qua sự thống trị của QHSX TBCN, kiến trúc thượng tầng tư sản.

Hai là, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN với tư cách một chế độ xã hội ở Việt Nam là bỏ qua thế nào? Chúng ta nên hiểu, bỏ qua không có nghĩa là phủ định sạch trơn mà phải có sự kế thừa. Kế thừa sự phát triển của KHCN, LLSX, KHQL, CSXH.,… Đây không phải là thành quả của GCTS mà là thành quả của nhân loại chẳng qua GCTS ứng dụng trước mà thôi.

Ba là, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN với tư cách một chế độ xã hội ở Việt Nam có được không? Trên cơ sở luận chứng khoa học là được với những điều kiện cho phép sau:

+ Điều kiện thế giới:

Xu thế của thời đại ngày nay là xu thế toàn cầu hóa giúp cho các quốc gia dân tộc xích lại gần nhau để chuyển giao công nghệ. Việt Nam đang thực hiện CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức tức là đi tắt đón đầu trong chuyển giao công nghệ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH.

Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế thế giới. Việt Nam chủ động hội nhập trong QHQT vào Asean, WTO.,… từng lúc nâng cao vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới.

Vai trò ngày càng quan trọng của kinh tế tri thức tác động một cách mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là điều kiện để nước ta ứng dụng KHCN và sản xuất nhất là công nghệ sinh học cho việc lai tạo cây giống, con giống mới đáp ứng cho yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hướng đến nền nông nghiệp xanh, phát triển bền vững góp phần tích cực cho việc xây dựng thành công nông thôn mới trên phạm vi cả nước.

Thời đại ngày nay vẫn là TKQĐ từ CNTB lên CNXH từ CMT1O Nga năm 1917. từ đó Việt Nam quá độ lên CNXH ở Việt Nam bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN với tư cách một chế độ xã hội là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử.

Hơn 25 năm đổi mới, mở cửa, hội nhập Đảng ta khẳng định: “Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế”.

“Trước sau như một ủng hộ các Đảng Cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, đảng cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”.

 “Tăng cường hiểu biết, tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới”.

“Phấn đấu cùng các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển phồn vinh”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nx. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 2011, tr. 84)

+ Tình hình trong nước.

Có ĐCSVN lãnh đạo với đường lối đúng; ý Đảng hợp lòng dân; dân tin Đảng.

Có đội ngũ cán bộ tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, xứng đáng là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Có sự đồng thuận của nhân dân, nhân dân ta một lòng quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, văn minh trên con đường đi lên CNXH.

Có lợi thế so sánh về vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực.,.đây chính là cơ hội để thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ.

Hơn 25 năm đổi mới, mở cửa, hội nhập, Đảng ta khẳng định: “Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 2011, tr. 71)

1.2. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội hoàn toàn phù hợp với quy luật của cách mạng Việt Nam

Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, địa hình trong khu vực đã quy định nên lịch sử truyền thống dân tộc Việt Nam đó là lịch sử dựng nước gắn với giữ nước; độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; xây dựng thành công CNXH gắn liền với việc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Từ lịch sử và truyền thống đã nêu, cho chúng ta thấy rõ lịch sử của Việt Nam là lịch sử của công cuộc chống lại sức mạnh tự phát của tự nhiên trong quá trình dựng nước. Đồng thời cũng là lịch sử của việc đương đầu chống lại sức mạnh của các thế lực xâm lược trong suốt hơn một nghìn năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, 117 năm xâm lược của thực dân, đế quốc.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, 117 năm là quá trình giành ĐLDT là tiền đề cơ bản để đi lên CNXH. Đây cũng chính là quá trình thực hiện đường lối của cách mạng Việt Nam ĐLDT gắn liền với CNXH như Cương lĩnh năm 1930 đã khẳng định: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng rồi đi tới xã hội cộng sản .

Ngày nay, xây dựng thành công CNXH là điều kiện tiên quyết để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

1.3. Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là phù hợp với mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, được lịch sử lựa chọn từ những năm 1930

Bối cảnh lịch sử Việt Nam những năm trước 1930, nhiều xu hướng cứu nước mang nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau, song tất cả đều thất bại mà nguyên nhân sâu xa chính là chưa có con đường cứu nước, cứu dân phù hợp với xu thế của thời đại và khát vọng nghìn đời của dân tộc.

Trong hoàn cảnh ấy Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước năm 1911, Người tìm đến CNM-LN và khẳng định: Muốn cứu nước, muốn giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

Tiếp đó là chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/02/1930 với Cương lĩnh đầu tiên khẳng định: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng rồi đi tới xã hội cộng sản.

Đây là con đường phát triển của cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế của thời đại và khát vọng nghìn đời của dân tộc được lịch sử lựa chọn.

1.4. Đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được thực tiễn kiểm nghiệm bằng thành tựu của hơn 25 năm đổi mới

1. Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển.

2. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá và các lĩnh vực xã hội có tiến bộ, bảo vệ tài nguyên, môi trường được chú trọng hơn; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện

3. Quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững.

4. Dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố

5. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực và hiệu quả hoạt động được nâng lên

6. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tăng cường, đạt một số kết quả tích cực

Những thành tựu đạt được trong thực hiện Cương lĩnh 1991 là to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước bước đầu thực hiện thành công công cuộc đổi mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển; bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; sức mạnh về mọi mặt được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới.

Nhìn tổng quát, hơn 25 năm qua, trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có nhiều khó khăn, thách thức, nhất là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, toàn Đảng, toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng. Ứng phó có kết quả với những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước. Cơ bản giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, các ngành đều có bước phát triển, quy mô nền kinh tế tăng lên; đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế, uy tín quốc tế của nước ta được nâng cao; phát huy dân chủ có tiến bộ, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả tích cực.

2. ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM, SỰ LỰA CHỌN KIÊN ĐỊNH NHẤT QUÁN

2.1. Sự kiên định nhất quán của ĐCS Việt Nam qua các kỳ đại hội

Từ Cương lĩnh 1930 Đảng ta khẳng định: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng rồi đi tới xã hội cộng sản. Tức là đi vào giai đoạn đầu của HT KT-XH CSCN mà CNXH là giai đoạn đầu.

Đến ĐH XI 2011, Đảng ta khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. CTQG - Sự thật, Hà Nội. 2011, tr. 70).

Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam được Đảng ta kiên định nhất quán, vững vàng trong lãnh đạo: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng, chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb.  Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 2011, tr. 66)

“Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị Quốc gia - ST, Hà Nội. 2011, tr. 63-64)

2.2. Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định nhất quán trước sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô

Trước sự điều chỉnh, thích nghi nhằm tồn tại của CNTB hiện đại, bước đầu có những thành tựu nhất định, đó là việc đề ra và thực hiện chính sách xã hội song, Đảng ta vẫn kiên định không đi theo CNTB hay CNXHDC Châu Âu vì suy cho cùng bản chất của nó vẫn là chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX. CNTB không phải là chế độ xã hội cuối cùng và duy nhất của loài người.

Trước sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô năm 1991, lần nữa Đảng ta vẫn kiên định con đường đi lên CNXH với những thành tựu và khuyết tật.

* Thành tựu của CNXH hiện thực

Lần đầu tiên trong lịch sử, con người được giải phóng hoàn toàn từ địa vị nô lệ trở thành người làm chủ trên mọi mặt của đời sống xã hội.

CNXH hiện thực từng cứu nhân loại khỏi nạn diệt chủng của chủ nghĩa phát xít qua hai lần chiến tranh thế giới khốc liệt nhất.

CNXH hiện thực từng là chỗ dựa vững chắc cho PTCS và CNQT, PTGPDT đấu tranh cho hòa bình, ĐLDT, dân chủ và tiến bộ xã hội.

CNXH hiện thực từng là lực đối trọng với CNĐQ, đứng đầu là Mỹ trên nhiều lĩnh vực từ KT, CT, XH, đặc biệt là QP-AN, thăm dò và khai thác vũ trụ.

* Khuyết tật của CNXH hiện thực

Do duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp khi nó không còn phù hợp trở thành lực cản cho sự phát triển.

Khi phát hiện sai lầm, lại chủ quan, nóng vội, duy ý chí trong cải cách, cải tổ, không xuất phát từ thực tế khách quan nên nhận thức và hành động không tôn trọng quy luật.

Rơi vào âm mưu DBHB của CNĐQ, đứng đầu là Mỹ làm cho CNXH hiện thực thoái trào, khủng hoảng và sụp đổ (31/12/1991).

Sự sụp đổ của CNXH hiện thực ở Đông Âu, Liên Xô là sự sụp đổ của mô hình CNXH chủ quan nóng vội duy ý chí. Còn CNXH hiện thực sức sống vẫn mãnh liệt, vẫn là sức hấp dẫn loài người tiến bộ trên thế giới.

Gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định nhất quán con đường đi lên CNXH, Đảng ta khẳng định: “Với những thắng lợi đã giành được hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh CNH,HĐH, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới”. (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 2011, tr. 64)

3. XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Mô hình CNXH

 3.1.1. Theo C.Mác.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH là nền đại công nghiệp.

Xoá bỏ chế độ tư hữu TBCN, xác lập chế độ công hữu XHCN về TLSX.

Tạo ra cách thức tổ chức lao động cùng với kỹ thuật và kỹ luật lao động mới.

Thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.

Xây dựng nhà nước kiểu mới, thể hiện bản chất của GCCN.

Giải phóng con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.

3.1.2 Theo Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Do nhân dân làm chủ.

Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp.

Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển.

Có Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

(ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG-ST, HN, Tr. 70).

3.2. Mục tiêu CNXH

Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

3.3. Động lực xây dựng CNXH

Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giữa GCCN với GCND và TLTT đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS.

3.4. Thời gian xây dựng CNXH

Thế kỷ XXI là thế kỷ mà nhân dân ta thu được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ CNXH.

Phấn đấu đến 2020 nước ta có nền công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại

Đến giữa TK XXI nước ta có nền công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN

(ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG-ST, HN, Tr. 71).

3.5. Phương hướng,  giải pháp xây dựng CNXH

Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

(ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG-ST, HN, Tr. 72).

Tóm lại, từ nhận thức một cách đúng đắn, triệt để và nhất quán về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã giúp cho mỗi chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về những thuận lợi, khó khăn; những thời cơ, vận hội; nguy cơ và thách thức đan xen nhau để từ đó với quyết tâm chính trị cao chúng ta phải phấn đấu vượt qua, tránh được căn bệnh chủ quan, nóng vội, duy ý chí; trong nhận thức phải xuất phát từ thực tế khách quan tôn trọng và hành động theo quy luật.

Từ những vấn đề lý luận đã nêu trên, thực tiễn của công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo hơn 25 năm qua với những thành tựu hết sức khả quan, cho phép chúng ta khẳng định dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự đồng thuận của nhân dân, con đường đi lên lên CNXH ở Việt Nam nhất định kết thúc thắng lợi. CNXH hiện thực sức sống vẫn mãnh liệt, mãi mãi vẫn là sức hấp dẫn đối với loài người tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm đồng thuận một lòng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh và văn minh trên con đường quá độ đi lên CNXH. Làm cho vị thế của Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Dân tộc Việt Nam bước đến đài vinh quang, sánh vai cùng các cường quốc năm châu trên thế giới./.

Ngày Đăng :

Đoàn Thị Mao
Khoa Dân vận

Đại thắng mùa Xuân năm 1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đó cũng là sự kết thúc của quá trình đấu tranh gian khổ, lâu dài, kiên trì, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Kết quả trên do nhiều yếu tố tạo thành, trong đó nghệ thuật quân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng góp phần không nhỏ. Đồng thời bổ sung vào kho tàng lý luận nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam những nét đặc sắc mới. Trong đó, nổi bật là nghệ thuật chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

Về chỉ đạo chiến lược, Đảng ta đã có sự chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo về lý luận cách mạng phù hợp thực tiễn Việt Nam khi xử lý thành công mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam hay mối quan hệ giữa cuộc kháng chiến của nhân dân ta với phong trào cách mạng thế giới để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế tạo thế và lực cho ta. Ngoài ra, ta còn mở mặt trận ngoại giao đúng lúc (1967) thực hiện thành công nghệ thuật kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao, mở ra cục diện “vừa đánh vừa đàm” rất có lợi cho ta.

Bên cạnh đó, nghệ thuật chỉ đạo chiến lược còn thể hiện ở việc ta mở đầu cuộc chiến tranh đúng lúc, đúng cách. Khi Mỹ đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh, dưới ánh sáng Nghị quyết 15 của Đảng phong trào Đồng Khởi cuối 1959 đầu 1960 chủ yếu bằng lực lượng chính trị có vũ trang hỗ trợ ở mức độ hạn chế, tiến hành đánh địch trên toàn Miền Nam. Phong trào vẫn tiếp tục diễn ra gắn chặt giữa tiến công quân sự và phong trào đấu tranh của quần chúng tạo ra thế và lực để giành thắng lợi ngày càng lớn. Đây là sự sáng tạo độc đáo bằng lực lượng tại chỗ của miền Nam, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tự ta giải quyết vấn đề của ta đến thời điểm nhất định thì vừa đánh vừa đàm, từ tháng 5/1968 sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Tất cả những điều đó có tác dụng hạn chế cuộc chiến tranh trên bộ trong phạm vi Miền Nam giữa ta và Mỹ.

Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta luôn nhất quán một chiến lược tiến công là chính, song phải đánh thắng địch từng chiến lược chiến tranh, kéo địch xuống thang từng bước mà đánh thắng địch. Vận dụng kinh nghiệm ấy, ta biết tạo thời cơ kết thúc chiến tranh có lợi nhất cho cách mạng Việt Nam. Vì thế, Đảng ta chủ trương: Trước hết, tập trung mũi nhọn loại khỏi vòng chiến, đối tượng chủ yếu là quân Mỹ; sau đó, giải quyết đối tượng còn lại là lực lượng tay sai ngụy quân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn đạt phương châm chiến lược ấy trong câu thơ nổi tiếng “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Thực hiện bước thứ nhất, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ bằng 3 cuộc chiến lược, chiến tranh của Mỹ: Chiến lược Chiến tranh đặc biệt, chiến lược Chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh, buộc Mỹ rút quân về nước, để rồi sau đó đánh cho ngụy nhào bằng tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Toàn bộ chế độ ngụy tay sai đã sụp đổ tan tành như lâu đài xây trên cát. Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng ta là kết quả của sự kiên quyết, chính xác, sắc bén và linh hoạt để giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước góp phần nâng cao nghệ thuật quân sự Việt Nam lên một tầm cao mới.

Bên cạnh đó nghệ thuật chiến dịch cũng được phát triển trong kháng chiến chống Mỹ, đóng vai trò quyết định trong các cuộc tiến công chiến lược lớn như: Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, tiến công chiến lược năm 1972, Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Do đặc điểm của chiến tranh giải phóng, lực lượng ta phát triển từ nhỏ đến lớn cho nên nghệ thuật chiến dịch của ta lấy tiêu diệt sinh lực địch là chính để từng bước làm thay đổi sự tương quan lực lượng và mục tiêu là giành quyền làm chủ từ thấp lên cao. Bên cạnh đó, sự phát triển phong phú về các loại hình chiến dịch là một đặc trưng nổi bật của quá trình phát triển và hoàn chỉnh nghệ thuật chiến dịch như chiến dịch tiến công của các binh đoàn chủ lực của chiến trường nhằm tiêu diệt lực lượng quân sự địch, xuất hiện từ năm 1964 - 1965; những chiến dịch trên mặt trận nông thôn, kết hợp tiến công quân sự với phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân đánh bại kế hoạch “bình định”, mặc dù quy mô chiến dịch nhỏ nhưng thắng lợi giành được có ý nghĩa to lớn, góp phần quan trọng đánh thắng chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ; những chiến dịch tiến công từ năm 1965 - 1968 ta mở những chiến dịch phản công lớn trên mặt trận đô thị, đánh vào cơ quan đầu não của địch; từ năm 1972 là thời kỳ phát triển toàn diện về loại hình chiến dịch và nghệ thuật tiến hành chiến dịch. Các chiến dịch tiến công, phản công quy mô lớn được tiến hành. Đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận diễn ra ở cả nông thôn và thành thị.

Trong các chiến dịch ta vận dụng và phát triển 4 phương hướng tác chiến chủ yếu là đánh điểm, diệt viện (dùng một bộ phận lực lượng đánh tiêu diệt cứ điểm, cụm cứ điểm của địch, tạo điều kiện cho bộ phận lực lượng chủ yếu tiêu diệt quân địch ở nơi khác đến cứu viện); bao vây tiến công trận địa; kết hợp đột phá thọc sâu với bao vây chia cắt, đánh địch trên toàn bộ chiều sâu phòng ngự chiến dịch của địch và bao vây tiến công đô thị. Trong chiến dịch phản công, ta kết hợp được lực lượng mạnh tại chỗ với lực lượng cơ động lớn, đánh gãy từng cánh quân tiến công của địch, buộc chúng từ chủ động tiến công sang bị động đối phó, thất bại, rút lui. Còn trong chiến dịch tiến công, tổng hợp đánh phá bình định ta sử dụng lực lượng quân sự và chính trị để vừa tiêu diệt địch vừa mở rộng vùng, giành dân. Trong thực hiện chiến dịch, ta còn tạo thời cơ đánh thắng những trận then chốt, dùng thế, dùng mưu điều địch theo ý định của ta, nghi binh lừa địch làm cho địch bất ngờ, lúng túng buộc phải theo ý định và cách đánh của ta. Nghệ thuật chiến dịch thể hiện những nét độc đáo và được phát triển hoàn chỉnh hơn trong kháng chiến chống Mỹ.

Nghệ thuật quân sự có thành công hay không cần có sự đóng góp của chiến thuật quân sự. Chiến thuật nảy sinh từ thực tiễn chiến đấu, từ yêu cầu phải đánh thắng địch bằng khả năng thực tế của ta về lực lượng, trang bị vũ khí, cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh nghiệm tổ chức chỉ huy. Chiến thuật được đúc kết từ kinh nghiệm và trí tuệ của nhân dân và các lực lượng vũ trang trực tiếp chiến đấu với địch. Chiến thuật của ta rất năng động, linh hoạt không rập khuôn theo công thức định sẵn hay dừng lại ở kinh nghiệm đã có mà không ngừng phát triển với nhiều hình thức phong phú, sáng tạo.

Chiến thuật của ta luôn quán triệt tư tưởng lấy ít đánh nhiều, tuy nhiên kiên quyết tập trung lực lượng ưu thế ở nơi và lúc cần thiết để tiêu diệt gọn từng lực lượng quân địch, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của chúng. Trong chiến đấu ta xác định chỗ mạnh của địch là quân đông, vũ khí nhiều, hỏa lực mạnh, sức cơ động cao. Chỗ yếu là tinh thần chiến đấu kém, ỷ vào sức mạnh vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại. Ta thường yếu về trang bị vũ khí nhưng chỗ mạnh của ta là ý chí quyết thắng, lòng dũng cảm. Điển hình cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, kết quả lớn nhất của ta là đánh bại ý chí xâm lược của địch, làm cho lính Mỹ cảm thấy xấu hổ khi mặt quân phục - điều mà trước đó họ rất tự hào.

Căn cứ vào đặc điểm của ta và địch sự sáng tạo của ta là tận dụng được lợi thế về địa hình, thời tiết tìm ra cách đánh địch có hiệu quả nhất. Ta chú trọng cách đánh đêm, đánh gần, nhằm hạn chế chỗ mạnh của địch và phát huy được sở trường của ta. Đảm bảo các yếu tố bất ngờ, bí mật làm cho quân địch hoang mang, dao động, rối loạn về chỉ huy, hiệp đồng. Trong những năm đầu chống Mỹ phần lớn các trận đánh trong công sự, đánh trú quân dã ngoại đều diễn ra ban đêm, giai đoạn cuối chiến tranh khi vũ khí được tăng cường ta tiến hành đánh địch cả ngày lẫn đêm.

Nghệ thuật quân sự Việt Nam đã có bước phát triển mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước về mặt chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Minh chứng cho nhận định trên là chúng ta đã đánh thắng từng chiến dịch, buộc Mỹ xuống thang chiến tranh và thắng lợi hoàn toàn bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Đó là sự kết tinh của truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, tri thức quân sự của thời đại và kinh nghiệm được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ trong cuộc chiến đấu với nhiều hy sinh, mất mát để giành và giữ độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc. Đồng thời, đây cũng là kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.

Ngày Đăng :
Hồ Thị Thùy Dung
Khoa LLMLN, TTHCM

Đã 38 năm kể từ ngày ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc (30/4/1975-30/4/2013). Đất nước ta đã độc lập, nhân dân ta đã được tự do, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Chiến tranh đã đi qua nhưng những nỗi đau chiến tranh vẫn còn đó, người Việt Nam vẫn kiên cường bất khuất, gồng mình hàn gắn vết thương chiến tranh và nỗ lực lao động để xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập. Trong mỗi chúng ta, có ai biết rõ số lượng vũ khí mà Mỹ đã sử dụng cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam? Con số đó không hề nhỏ, có những lúc, cường quốc to lớn ấy phải dốc hết toàn lực để nhằm khuất phục đất và người Việt Nam. Nhưng chính nghĩa luôn chiến thắng, đất nước Việt Nam đã chiến thắng vẻ vang trước một kẻ khổng lồ. Họ quyết tâm đánh Mỹ bằng tất cả những gì họ có, bằng cả chông tre, tổ ong, dao, búa, tầm vông vót nhọn,…Họ thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.

Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, các nhà quân sự Mỹ đã thừa nhận rằng: Một số lượng lớn binh sĩ Mỹ bị chết là do vũ khí tự chế của Việt Nam. Những vũ khí tự chế ấy đơn giản chỉ là những cây chông làm bằng tre được vót nhọn; những tổ ong vò vẽ treo lủng lẳng ở ngoài vườn; súng ngựa trời dùng để phóng mảnh kim loại, thủy tinh gây sát thương cao; giàn thun bắn lựu đạn hay chất độc được đồng bào dân tộc dùng để săn thú rừng,…Tất cả những thứ ấy, lúc thanh bình nó là những vật gần gũi với người dân. Nhưng khi có giặc ngoại xâm thì vũ khí tự chế của Việt Nam mang tính sát thương cực kì lớn và đã trở thành nỗi ám ảnh đối với những kẻ mang dã tâm xâm lược. Từ đó, ta mới thấy được sự mưu trí, dũng cảm của những con người Việt Nam, luôn kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, luôn thể hiện được chủ nghĩa anh hùng cách mạng của một dân tộc đối đầu với các thế lực ngoại xâm qua các thời đại lịch sử. Nhân dịp kỉ niệm 38 năm ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta hãy cùng tìm hiểu một số loại vũ khí tự chế của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhằm ôn lại truyền thống kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm, sự mưu trí, sáng tạo, dũng cảm của nhân dân ta.

* Hầm chông giết giặc

Trong những trận càn, nhiều binh sỹ Mỹ vẫn nói với nhau rằng “Đi một bước nữa có thể là bước đi cuối cùng của đời mình!”. Bởi vì: Chúng có thể bị sụp xuống hầm chông và hậu quả thì từ chết tới bị thương. Trên những con đường làng êm ả của Việt Nam, hằng ngày người dân Việt Nam đi làm đồng, đi chợ, đi bắt cá,…rất đỗi bình thường. Nhưng tới khi quân Mỹ đi càn thì con đường ấy lại trở thành con đường xuống địa ngục. Vì nó đầy rẫy những cạm bẫy không lường trước được. Đó là những hầm chông sắc nhọn được vót bằng loại tre già hay tầm vông được cắm thật chặt xuống hố đã được đào sẵn, chỉa mũi nhọn lên trên. Ở trên được ngụy trang bằng những cành cây, rơm rạ, hay lá cây. Bình thường không biết đấy là hầm chông chỉ khi nào quân địch bị rơi tọt xuống hố đó, rồi bị chông đâm thủng bụng, xuyên qua mông, xuyên qua chân thì mới biết là mình đã rơi vào trận địa được nhân dân ta bày sẵn. Nhân dân ta đã sáng tạo ra rất nhiều loại chông: Chông đòn, chông hầm, chông quay, chông bàn, chông hom,…đa số chông được làm bằng tre, có những nơi chông được làm từ thân của cây cau già, hay làm bằng sắt. Hầm chông được bố trí ở khắp nơi: Ở trên đường làng, ở hiên nhà, dưới gốc cây, trong vườn nhà,…có mặt ở khắp đất nước Việt Nam. Hầm chông dễ làm, tre thì ta có sẵn ngay ngoài vườn, từ những cụ già, những người phụ nữ, những em bé cũng tham gia vót chông để giết giặc. Chính vì vậy, hầm chông đã góp phần vào việc đánh giặc giữ làng, giữ nước của dân ta và đã trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của binh lính Mỹ. Tôi nhớ mãi một cảnh trong phim Biệt Động Sài Gòn, một toán lính Mỹ đi càn ở Củ Chi, có một tên bị rơi xuống hầm chông đau đớn kêu cứu trong tuyệt vọng: “Help me! Help me!” (Cứu tôi với! Cứu tôi với!). Nhưng những tên đồng bọn của hắn dù không bị rơi xuống hầm chông nhưng cũng hoảng sợ cực độ, quay súng bỏ chạy với sự bất lực “No…! No…! I can’t!” (Không! Không! Tôi không thể!). Một đội quân Mỹ được trang bị vũ khí tối tân hiện đại nhưng phải bỏ chạy trước hầm chông đơn giản của Việt Nam. Thấy tự hào làm sao dân tộc ta, một dân tộc bình dị nhưng rất đỗi anh hùng.

* Đánh giặc bằng ong vò vẽ

Ở quê hương Bến Tre, cái nôi của phong trào Đồng Khởi. Chẳng ai mà không biết ông Nguyễn Văn Tư (sinh năm 1933, hy sinh ngày 26/10/1964), bí danh Thanh Ngọc, quê ở xã Tân Thành Bình nay thuộc huyện Mỏ Cày Bắc tỉnh Bến Tre. Ông là một chiến sĩ du kích có kỹ năng đánh độc lập, nhỏ lẻ, với vũ khí thô sơ như chông, mìn, bẫy lựu đạn. Đặc biệt, ông đã sáng tạo ra cách đánh địch bằng ong vò vẽ phối hợp với trận địa chông, mìn, gây cho giặc nhiều tổn thất đáng kể. Trận địa có ong vò vẽ được ông thiết kế công phu: Ong được bắt về điểm sẽ xây dựng trận địa từ hồi tổ còn nhỏ, đem về hàng ngày cho ong ăn thịt trâu, bò cho tổ ong lớn nhanh. Bên cạnh tổ ong, ông Tư thiết kế trận địa hầm chông, mìn, cấm chông dày đặc ở dưới các mương gần đó. Khi địch đã lọt vào “ổ” từ xa ông giật dây phá vỡ tổ ong cho ong bay ra rượt bọn địch đánh tới tấp, khiến chúng hoảng loạn đâm đầu chạy, không biết xung quanh mình trận địa đã bày sẵn: Thằng thì rớt xuống hầm chông, thằng thì rơi vào điểm có cài lựu đạn nổ, thằng thì nhảy xuống mương mong rằng thoát nạn bị ong đánh, ai dè bị chông dưới mương đâm lủng bụng, làm bọn địch chết loạn xạ và phải dừng cuộc hành quân.

Ở Cần Thơ, nhân dân ta bắt ong về nuôi. Hằng ngày đem áo, khăn của mình ra treo ở gần tổ ong để cho ong quen mùi, nhân dân ta lại gần tổ ong thì không sao nhưng khi Mỹ càn tới, ong thấy mùi lạ bèn xông ra đánh tới tấp làm bọn lính Mỹ bị ong đốt bỏ chạy toán loạn.

Ở nước ta, trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước có nhiều người dân, đội du kích sáng tạo cách đánh giặc bằng ong vò vẽ rất hiệu quả. Tạo nên một sức mạnh toàn dân đánh giặc càng làm cho phong trào giải phóng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Ong vò vẽ được mệnh danh là “Binh chủng không quân” của chiến tranh nhân dân.

* Súng ngựa trời

Súng ngựa trời được quân và dân Bến Tre sản xuất tháng 1/1960, được sử dụng ở ba xã Định Thuỷ, Bình Khánh, Phước Hiệp và một số trận chống càn ở Bến Tre trong phong trào Đồng Khởi. Sau đó, súng được sử dụng phổ biến trong du kích đồng bằng sông Cửu Long và Nam Bộ đầu những năm 60 của thế kỷ XX.

Là loại vũ khí thô sơ có hình con ngựa trời, dùng phóng các mảnh kim loại, thuỷ tinh, đá vụn để sát thương sinh lực địch. Cấu tạo của súng ngựa trời gồm: Nòng bằng kim loại (ống nước, ống tôn) đường kính 35-70 mm, dài 0,4-0,8 mét, đáy nòng bịt kín (hàn hay đập dẹt) đặt trên hai chân chống, gần đáy nòng khoan một lỗ để lắp cơ cấu cò hay bộ phận phát hoả đơn giản. Trong nòng nhồi thuốc phóng (thường dùng thuốc đen), tấm đệm bằng gỗ và các mảnh gang, sắt, mảnh sành, thuỷ tinh, đá, bi xe đạp,...có thể ngâm nọc rắn độc, nước tiểu nhằm tăng tính sát thương. Cự ly phóng mảnh tới 150 mét, sát thương sinh lực địch khoảng cách tới 100 mét.

* Giàn thun bắn lựu đạn

Giàn thun cao su bắn lựu đạn do đội du kích sử dụng được làm bằng hai dây lớn, buộc một mảnh bạt vào đuôi. Hai đầu dây cột vào một cây có hai chạc cao hơn đầu người kéo căng ra để quăng lựu đạn đã rút chốt sẵn. Phần mỏ vịt được quấn chặt bằng dây cao su và tính toán sao cho lựu đạn bay xa từ 100m đến 150m thì dây cao su mở hết, rồi phát nổ trong đồn địch. Thời gian cháy chậm của lựu đạn là 7s nên khoảng cách tối thiểu mà ta có thể bắn trúng đó là 330m.

Cách dùng giàn thun bắn lựu đạn để tấn công một đồn địch rất đơn giản mà cực kỳ hiệu quả. Những chiến sĩ du kích của ta thường chọn những bụi rậm, có nhiều cây để buộc giàn thun. Đến một cây to có thân chia ra hai nhánh hoặc hai cây đứng cạnh bên nhau, các du kích lặng lẽ buộc dây thun vào. Họ phân công nhau người thì trèo lên cây cao để quan sát mục tiêu, người thì cầm trái lựu đạn tra vào giàn thun, người đo cự ly để kéo giãn dây thun, còn lại tất cả tập trung kéo dây thun giãn ra để tạo lực đàn hồi bắn trái lựu đạn bay xa. Người chỉ huy hô “bắn”, tất cả đồng loạt buông ra, trái lựu đạn được bắn đi vào không trung và rơi xa mấy trăm mét. Người quan sát trên cây hô “trúng rồi”, ở dưới đất người chỉ huy tra quả lựu đạn tiếp theo; hoặc người trên cây yêu cầu điều chỉnh “qua trái - qua phải, xa hơn - gần hơn” năm mười mét để những người dưới đất điều chỉnh lại “thước ngắm”. Cứ thế mà các du kích nã đạn, chỉ đến khi đánh cháy được đồn địch, họ mới tháo giàn thun và âm thầm rút lui không để lại dấu vết. Bọn địch ở trong đồn được nhận những quả lựu đạn “từ trên trời rơi xuống” chỉ biết âm thầm chịu đựng chứ chẳng biết ai tấn công mình và ở phía nào, chúng chỉ bắn trả một cách mông lung không chủ đích trong khi đội du kích của ta đã rút lui an toàn. Nhờ giàn thun bắn lựu đạn mà du kích Bến Tre đã hạ được nhiều đồn địch trong phong trào Đồng Khởi năm 1960.

* Hạ trực thăng địch bằng cụm 3 trái nổ đơn giản mà hiệu quả

Với trí thông minh óc sáng tạo của một người dân Bến Tre, đồng chí Nguyễn Văn Chồn và đồng đội đã tận dụng đạn pháo lép của Mỹ chế thành trái nổ, lấy vũ khí địch đánh địch, diệt máy bay trực thăng Mỹ ở ấp 5 xã Long Mỹ huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre vào năm 1969.

Trái được đặt cách mặt đất 0,7m trên giá tréo và được gài bằng 4 sợi dây cho 1 chốt an toàn của trái, mỗi dây dài 25m căng qua các chông sào (chống máy bay). Giữa trái này và trái khác có khoảng cách 50m và được bố trí thành thế tam giác 3 trái 3 cụm. Đồng thời, trên các sợi dây dẫn đến chốt an toàn các chiến sĩ ta còn thêm tàu cau, lá chuối tạo sức giật mạnh chốt, khi có sức gió căng bảo đảm trái sẽ nổ đúng yêu cầu”. Ngày 13/4/1969, trực thăng Mỹ đổ quân vào trận địa, sức gió căng do cánh quạt máy bay giật mạnh tàu cau, lá chuối làm 1 cụm trái nổ, kết quả 2 chiếc tan xác tại chỗ, 2 chiếc khác bị thương.

Bọn Mỹ đưa trực thăng khác đến chở thương, 1 cụm trái khác nổ tiếp làm tan xác thêm 1 chiếc. Trận này ta diệt và làm hư hại nặng 5 máy bay trực thăng, 52 lính Mỹ bị tiêu diệt khi chưa kịp xuống mặt đất.

Cách đánh trực thăng đơn giản nhưng tiêu diệt nhiều giặc được phổ biến ra toàn tỉnh. Đồng chí Nguyễn Văn Chồn được tuyên dương danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang.

* Lấy bom bi Mỹ, đánh Mỹ

Đó là sáng kiến của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Việt Hùng, (tên thường gọi Tư Trung) sinh năm 1944, trong một gia đình có truyền thống cách mạng tại ấp 3, xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Giai đoạn 1965-1966, hầu hết địa bàn Đức Huệ là vùng trắng (vùng không có cơ sở cách mạng, là địa bàn bị địch chiếm đóng), vì thế nên đội du kích của ông phải ở dưới hầm bí mật. Việc tiếp tế vũ khí, đạn dược cực kỳ khó khăn; lương thực, thực phẩm, thuốc men đều phải do nhân dân Đức Hoà, Đức Huệ chi viện. Trước khó khăn đó, nhiều đêm ông trăn trở phải đánh giặc cách nào cho hiệu quả. Và ý tưởng chế tạo bom mìn bằng chính vật liệu từ bom đạn của Mỹ đã hình thành trong ông từ những đêm trăn trở ấy.

Sau mỗi lần địch thả bom bi, có nhiều trái nhỏ sau khi bung ra từ “trái mẹ” song vẫn không nổ, ông tranh thủ lượm về, cùng với đồng đội tìm hiểu nguyên lý hoạt động của chúng và phát hiện ra rằng trái bom bi chưa nổ là do chưa đủ vòng quay. Sau đó, ông và đồng đội đã “chế” ra trái gài bằng cách bật nắp trái bom bi chưa nổ, điều chỉnh kim hoả, buộc dây kẽm bên ngoài, làm một cần bật rồi móc chỉ vào cần bật này (tuỳ theo địa hình để sợi chỉ dài 5-10m hoặc lớn hơn). Với trái gài này, khi có lực tác động vào sợi chỉ, cần bật sẽ bung ra, làm kim hoả chạm hạt nổ và trái bom bi sẽ nổ ngay. Sau đó, ông và đồng đội còn làm mìn gồm: Nguyên trái bom bi ở giữa, khối thuốc nổ, kẽm gai cắt nhỏ trộn xi măng xung quanh, gây sát thương rất lớn khi nổ. Ngoài ra, ông còn mày mò, chế tạo bệ phóng để phóng trái đánh tàu với sức công phá đủ đánh chìm tàu hàng trăm tấn…

Sau khi có vũ khí tự tạo, ông điều nghiên cứu kỹ quy luật đi càn quét của Mỹ, ngụy để tạo trận địa mìn liên hoàn, dày đặc. Cứ một trái mìn tự chế, ông lại đặt kèm theo gần đó cả chục trái gài. Có lần, ông và một đồng chí nằm dưới hầm bí mật sau một bụi tre, khi địch đến gần bụi tre, ông bật nắp hầm, quăng lựu đạn ngay. Bọn địch hoảng hốt tản ra, vấp ngay phải dây của trái gài thứ nhất, khiến trái gài nổ, làm mấy tên chết ngay tại chỗ. Hoảng loạn, chúng chạy thục mạng, tiếp tục vấp phải trái thứ hai rồi đến trái thứ ba. Tổng số 12 tên địch đã phải bỏ mạng vì thứ vũ khí tự chế của ông…

Từ thắng lợi ban đầu, diệt địch bằng chính bom đạn địch ấy, ông và đồng đội đã chế tạo được một số lượng lớn mìn, lựu đạn gài và bệ phóng đánh tàu chiến. Nhờ những loại vũ khí lợi hại đó nên mặc dù lực lượng của ta ở ngay sát nách địch, ngày ngày khiến địch chết và bị thương mà chúng không thể tìm ra nơi quân ta phục kích. Chẳng thế mà ngày ấy địch hay nói câu cửa miệng “Không đụng độ “Việt Cộng” mà vẫn đầu rơi máu chảy”.

* Đánh giặc bằng mìn gạt

Cựu chiến binh, Trung tá Tô Hoài Đức ở Củ Chi chính là người sáng tạo ra loại vũ khí: Mìn gạt. Ông sớm giác ngộ cách mạng, tham gia du kích từ khi mới 13 tuổi (năm 1960) và hai năm sau nhập ngũ trực tiếp chiến đấu. Tháng 9/1967, ông vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Ông được biết đến như người có “biệt tài” sáng chế vũ khí. Ban đầu, ông mượn cán bộ quân giới hai trái mìn cán của Liên Xô về tìm hiểu, sau đó mang đi đánh thử xe tăng. Tuy nhiên, nhược điểm của loại mìn này là khi xe tăng cán lên mới gây nổ. Ông bèn tìm cách dùng thuốc từ những trái đạn, quả bom chưa nổ để làm mìn đánh xe tăng, “chế” bộ điểm hỏa gắn vào và chừa một lỗ nhỏ để cắm chiếc que dài. Làm xong, ông mang mìn đi cài đánh thử và đánh thắng ngay lần đầu. Loại mìn này chỉ cần xe tăng chạy qua, “gạt” nhẹ vào chiếc que là nổ ngay.

Từ đó quân và dân Củ Chi dùng mìn “gạt” để đánh xe tăng, tàu chiến Mỹ và cả lính bộ binh đi càn, máy bay đổ bộ nữa,…Chỉ cần biết được những vị trí địch có thể tập trung quân, máy bay có thể đổ quân, cài sẵn mìn ở đó và chờ kết quả. Hiệu quả của mìn “gạt” giúp quân và dân Củ Chi càng hăng hái thi đua giết giặc, đánh xe tăng địch.

* Đánh giặc bằng độc Ch’pơơr

Ch’pơơr là một loại cây rừng, thường mọc ở những vùng núi cao dọc các thượng nguồn sông suối, thác ghềnh. Mủ cây Ch’pơơr được người Cơtu chứa trong một chiếc lá, sau một quá trình thêm thắt các nguyên vật liệu (như nọc rắn, bồ hóng ở dưới bếp hay mủ cây sơn) thì được nấu kĩ, phơi sương được cô đặc lại; mất gần 2 ngày mới có thể làm được Ch’pơơr. Loại kịch độc này được dùng để phết lên đầu mũi tên để đi săn là chủ yếu. Không những giúp đồng bào Cơtu trong việc săn bắn, tự vệ, mà kịch độc Ch’pơơr còn làm nên những chiến thắng lẫy lừng của người Cơtu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Kịch độc Ch’pơơr đã giúp dân làng Cơtu giết thú dữ và làm nên những chiến thắng lẫy lừng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ngày nay chiến tranh đã kết thúc, thú dữ cũng không còn nhưng đồng bào Cơtu vẫn giữ gìn bí quyết chế tác Ch’pơơr để thể hiện sự trân trọng tổ tiên.

Những loại vũ khí tự chế như hầm chông, tổ ong, súng ngựa trời, giàn thun bắn lựu đạn, mìn gạt, trái nổ,…và nhiều loại vũ khí khác như mìn xi măng, mìn tĩnh nước mắm, mìn chông, dao, búa, mã tấu, súng tự tạo,…đã thể hiện được mưu trí sáng tạo của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Quân đội Mỹ hùng mạnh với những vũ khí tối tân hiện đại nhưng phải khiếp sợ trước những vũ khí tự chế của quân và dân Việt Nam. Những vũ khí ấy đã góp phần cho thắng lợi của toàn dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh giữ nước, viết thêm cho lịch sử hào hùng của một dân tộc anh hùng. Là thanh niên của thế hệ Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải phát huy hơn nữa truyền thống yêu nước của dân tộc ta, thể hiện sự mưu trí, sáng tạo trong lao động, học tập. Tự hào với truyền thống vẻ vang của dân tộc cùng tiếp bước cha anh xây dựng chủ nghĩa xã hội, viết tiếp lịch sử hào hùng của dân tộc bằng những chiến công trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.

Ngày Đăng :

Đoàn Thị Mao
Khoa Dân vận

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi được đánh dấu bằng ngày lịch sử trọng đại 30/4/1975. Đó là biểu tượng cao đẹp của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, của tinh thần chiến đấu bền bỉ, kiên cường vì chân lý: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” . Đế quốc Mỹ với những âm mưu vô cùng thâm độc, hiểm ác kết hợp với những phương tiện chiến tranh tiên tiến nhất, hiện đại nhất, vũ khí có khả năng hủy diệt nhất nhằm đè bẹp phong trào cách mạng Việt Nam. Nhưng với một quyết tâm sắt đá và khí thế cách mạng nóng bỏng: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất không chịu làm nô lệ”. Để giành được thắng lợi, cả dân tộc ta đã phải trải qua những thử thách, gian truân, chịu những hy sinh, tổn thất lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc để đi đến toàn thắng. Ngày nay ý chí quyết thắng đó càng thôi thúc chúng ta không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức đưa đất nước ngày càng phát triển. Một trong những nguyên nhân làm nên những thắng lợi ấy cả thời chiến và thời bình là chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

 Trong lịch sử dân tộc ta, đặc biệt là thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước chủ nghĩa anh hùng cách mạng lại được phát huy cao độ ở cả 2 miền Nam - Bắc. Ở miền Nam, khắp nơi chúng ta đều thấy những tấm gương chói lọi sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, từ trong các lực lượng vũ trang đến các tầng lớp nhân dân, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào từ nông thôn tới thành thị, từ đồng bằng tới miền núi, không phân biệt già trẻ, gái trai, không phân biệt sắc tộc và tôn giáo, cùng đồng cam, cộng khổ, chịu đựng mọi khó khăn, thiếu thốn, chủ động và sáng tạo tìm ra cách đánh hiệu quả nhất, lập nên vô vàn chiến công hiển hách, làm kẻ thù phải kinh ngạc, khiếp sợ. Thật vậy, chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã thể hiện ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp nhân dân ta. Từ người lái đò chèo thuyền đưa thương binh dưới bom đạn địch, vẫn vững tay chèo nhanh chóng chuyển thương binh về đến nơi an toàn. Những người mẹ ra khỏi hầm giữa lúc đạn địch ác liệt để nhường chỗ cho thương binh, dù bị địch thường xuyên bao vây, rình rập, vẫn ngụy trang đón cán bộ vào nhà, đào hầm bí mật trong nhà, ngoài vườn nuôi dưỡng, che giấu hoặc tiếp tế lương thực, thực phẩm cho lực lượng cách mạng như: Mẹ Nguyễn Thị Rành ở Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh), mẹ Nhu, mẹ Cộng (Quảng Nam - Đà Nẵng), mẹ Thạch Thị Thanh (Trà Vinh) hay như: Chị Nguyễn Thị Út (Trà Vinh) với tinh thần đánh giặc rất kiên quyết “còn cái lai quần cũng đánh” hay nữ anh hùng Tạ Thị Kiều (Bến Tre) tay không lấy bót giặc,…Những hành động rất anh hùng nhưng cũng rất bình thường ấy đã diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên khắp miền Nam.

Riêng miền Bắc, với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, “Mỗi người làm việc bằng hai vì đồng bào miền Nam ruột thịt” đã thôi thúc toàn dân vừa sản xuất vừa chiến đấu. Từ lực lượng vũ trang, công nhân, nông dân, trí thức hay thợ thủ công,...đều ý thức rõ về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Các lực lượng vũ trang nêu cao khẩu hiệu: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!” trong chiến đấu chống máy bay Mỹ. Giai cấp công nhân nêu quyết tâm “Chắc tay súng, vững tay búa”, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, bảo vệ và phát triển sản xuất. Nông dân với khẩu hiệu: “Chắc tay súng, vững tay cày”. Trí thức thi đua thực hiện “Ba quyết tâm”. Các phong trào “Ba sẵn sàng” của thanh niên, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ,…Các phong trào trên đã trở thành biểu tượng cho ý chí của nhân dân miền Bắc. Dù đời sống vật chất còn rất nhiều thiếu thốn nhưng từ nhà máy, công trường tới đồng ruộng, mọi người đều cố gắng thi đua lập thành tích trong sản xuất để chi viện cho miền Nam. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, miền Bắc trở thành chiến trường ác liệt. Dưới mưa bom bão đạn, nhân dân miền Bắc vẫn sản xuất và chiến đấu, vừa làm nên những “cánh đồng năm tấn” vừa bắn rơi và bắt sống hàng nghìn máy bay và giặc lái của Mỹ, làm nên những kỳ tích mà trận “Điện Biên Phủ trên không” là ví dụ điển hình cho nghị lực, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Bắc. Ngoài cung cấp vật chất miền Bắc còn huy động sức người cho miền Nam. Chỉ tính riêng những năm 1973-1975, gần 50 vạn thanh niên miền Bắc nhập ngũ lên đường ra mặt trận. Sự tăng viện này có ý nghĩa rất lớn cho việc củng cố, phát triển khối quân chủ lực ở miền Nam. Hơn 3 vạn cán bộ, chiến sĩ, công nhân, thanh niên xung phong từ miền Bắc đã được điều động vào Trường Sơn cùng tham gia nâng cấp và mở đường Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Vì thế, hậu phương miền Bắc vừa là nơi cung cấp cơ sở vật chất, vũ khí đạn dược vừa là chỗ dựa tinh thần, sát cánh cùng nhân dân miền Nam chiến đấu nhằm tạo ra thế và lực để phát huy sức mạnh tổng hợp giành chiến thắng.

Chính vì lẽ đó mà những chiến thắng to lớn ta đã giành được ở cả 2 miền là chiến công của toàn thể dân tộc Việt Nam anh hùng. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần căm thù giặc sâu sắc, niềm tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng nhất định về ta. Đó là thắng lợi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã phát huy mạnh mẽ trong hành động của mỗi người dân Việt Nam.

Ngày nay, cũng với tinh thần, ý chí cách mạng ấy đang cổ vũ mỗi người dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. 30/4/1975 chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử hàng ngàn năm giữ nước và dựng nước của dân tộc ta nhưng thật sự là cột mốc lịch sử cực kỳ quan trọng trên bước đường xây dựng và phát triển đất nước, để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Với phương châm:“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế;”(Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, trang 83).

Phát huy những thắng lợi trên, trong quá trình đổi mới chúng ta đã đạt được những thành tựu cơ bản về kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đến tháng 9 năm 2012, lạm phát bước đầu được kiềm chế, giá tiêu dùng tăng 5,13%; xuất khẩu tăng 18,9%, đạt 83,79 tỷ USD, nhập khẩu tăng 6,6%, đạt 83,76 tỷ USD. Lĩnh vực ngoại giao, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 180 trong 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc; có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Chúng ta đã có 98 cơ quan đại diện tại các quốc gia và vùng lãnh thổ khắp 5 châu trên thế giới. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao dân tộc, chúng ta đã đảm nhiệm thành công cương vị ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và Chủ tịch ASEAN năm 2010. Thế và lực của đất nước ngày càng vững mạnh, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức như: Nạn tham nhũng, quan liêu vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch,… song không phải vì vậy mà tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ta chỉ hoàn toàn là màu ảm đạm như giọng điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Đông đảo các tầng lớp nhân dân ta đang sôi nổi hưởng ứng “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; theo đó xuất hiện ngày càng nhiều các phong trào thi đua yêu nước ở nhiều ngành, nhiều đơn vị, địa phương,...tạo ra động lực tinh thần to lớn, vượt qua nhiều khó khăn. Đó là những biểu hiện sinh động của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế.

Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc đã được mở ra - kỷ nguyên đất nước được độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. 38 năm đã trôi qua kể từ thắng lợi vẻ vang đó, Việt Nam đã tiến những bước dài chưa từng có trong lịch sử, giành những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu mãi mãi cổ vũ các thế hệ người Việt Nam quyết tâm gìn giữ nền độc lập thống nhất - thành quả mà các thế hệ cha anh đã đổ biết bao xương máu mới giành được, chủ nghĩa ấy vẫn đang có ý nghĩa sâu sắc động viên toàn thể nhân dân Việt Nam hôm nay ra sức phấn đấu, nêu cao tinh thần yêu n­ước, yêu chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng; lao động, học tập và công tác có chất lượng, hiệu quả và khoa học để góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và vững bước trên con đường xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.

Ngày Đăng :

Thạc sĩ Võ Thị Thúy Liễu
                                                         Khoa LLMLN, TTHCM

Biên giới của một quốc gia có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Biên giới quốc gia ổn định là điều kiện để đảm bảo cho một quốc gia hòa bình và phát triển. Bảo vệ biên giới quốc gia là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.

Quốc gia hình thành bởi ba thành tố cơ bản là “lãnh thổ, nhà nước và dân cư”. Trong đó, yếu tố biên giới - lãnh thổ là nền tảng đầu tiên. Bản chất vấn đề biên giới - lãnh thổ là hệ trọng và hết sức nhạy cảm, việc bảo vệ toàn vẹn biên giới - lãnh thổ là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc.

Biên giới quốc gia là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó xác định phạm vi chủ quyền quốc gia của một nước đối với lãnh thổ quốc gia (bao gồm: Vùng đất và lòng đất phía dưới; vùng biển, đáy biển, lòng đất dước đáy biển và khoảng không trên vùng đất và vùng biển đó).

Như vậy, biên giới quốc gia là nơi phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia với quốc gia khác hoặc với các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đó. Nói cách khác, biên giới quốc gia chính là giới hạn ngăn cách lãnh thổ của quốc gia này với quốc gia khác và ngăn cách lãnh hải với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (Điều 3, Nghị định số 140/2004/N Đ - CP ngày 25 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

Trong đó:

- Đường ở đây bao gồm: Biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển.

- Mặt thẳng đứng gồm mặt thẳng đứng theo biên giới quốc gia trên đất liền, biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất và lên vùng trời.

Như vậy, biên giới quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Biên giới trên đất liền, biên giới quốc gia trên biển, biên giới quốc gia trong lòng đất và biên giới quốc gia trên không.

- Biên giới quốc gia trên đất liền giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước láng giềng được xác định bằng hệ thống mốc quốc giới, Hiệp ước về hoạch định biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng cùng các bản đồ, Nghị định thư kèm theo các hiệp ước đó (Điều 4, Nghị định số 140/2004/N Đ – CP ngày 25 tháng 6 năm 2004).

Mốc quốc giới là dấu hiệu bằng vật thể dùng để đánh dấu đường biên giới quốc gia trên đất liền. Mốc quốc giới của Việt Nam được cắm theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế về biên giới đã được ký kết với nước láng giềng để đánh dấu đường biên giới quốc gia trên thực địa và được giữ gìn, bảo vệ giữ đúng vị trí, hình dáng, kích thước, ký hiệu, chữ và màu sắc đã được quy định.     

- Biên giới quốc gia trên biển là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải các quần đảo Việt Nam.

Ở những nơi lãnh hải, nội thủy, hoặc vùng nước lịch sử của Việt Nam tiếp giáp với lãnh hải, nội thủy hoặc vùng nước lịch sử của nước láng giềng, biên giới quốc gia trên biển được xác định theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết với các nước láng giềng đó.

Biên giới quốc gia trên biển được xác định và đánh dấu bằng các tọa độ trên hải đồ theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập (Điều 5,Điều 4, Nghị định số 140/2004/N Đ – CP ngày 25 tháng 6 năm 2004).

 - Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất.

Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1992 và các Điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.

- Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời (Khoản 4,5 Điều 5 Luật Biên giới quốc gia).

Biên giới quốc gia có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, vì vậy cần phải bảo vệ biên giới quốc gia. Để bảo vệ biên giới quốc gia, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra các quan điểm như sau:

- Thứ nhất, xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lãnh thổ và biên giới quốc gia là một bộ phận hợp thành quan trọng, không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lãnh thổ và biên giới quốc gia là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự ổn định của đất nước Việt Nam. Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung đặc biệt quan trọng của xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt.

- Thứ hai, chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là thiêng liêng bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ gìn và bảo vệ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh của đất nước.”

- Thứ ba, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định; giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau.

Xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định là vấn đề đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quan điểm này phù hợp với lợi ích và luật pháp của Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta coi việc giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội. Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau. Về vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, quan điểm nhất quán của Việt Nam là: Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cải đối với vùng biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý về vấn đề này. Tuy nhiên, vì lợi ích liên quan chung của các bên hữu quan, Việt Nam sẵn sàng đàm phán hòa bình để giải quyết.

- Thứ tư, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt.

Trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 2013, Đảng ta khẳng định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới”.

Bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước thống nhất quản lý việc xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia; có chính sách ưu tiên đặc biệt xây dựng khu vực biên giới vững mạnh về mọi mặt.

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo quy định của pháp luật.

Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là  nhiệm vụ nặng nề nhưng hết sức thiêng liêng và cao cả. Bởi vì, đó chính là nhiệm vụ gìn giữ tài sản vô giá mà ông cha ta đã phải đổi bằng xương máu trong lịch sử tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc. Sự nghiệp ấy đòi hỏi phải có sự quan tâm thích đáng của Đảng, Nhà nước và sự tham gia với tinh thần trách nhiệm cao của các Bộ, Ngành từ Trung ương đến địa phương cùng nhân dân cả nước, với tinh thần “Tất cả hướng về biên giới”, xây dựng biên giới ngày càng giàu mạnh./.

Ngày Đăng :

Thạc sĩ  Nguyễn Trung Dương
  Hiệu trưởng Trường Chính trị

Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã viết: “Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc... 

Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản. Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến sự hụt hẫng, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ. Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước.

Nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân”. Trong ba vấn đề cấp bách mà nghị quyết chỉ ra, nghị quyết cũng chỉ rõ: “Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra, coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả, đồng thời tập trung cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách sau đây:

Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng.
Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Trong ba vấn đề trên, vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất”.

Ngày 24-02-2012, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 15-CT/TW về thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI. Chỉ thị đã nêu rõ, mục đích, yêu cầu, nội dung và cách tổ chức thực hiện Nghị quyết. Việc quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 và Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém và rèn luyện phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng viên là vấn đề đặc biệt quan trọng và cấp thiết hiện nay. Trong đó tập trung vào một số vấn đề như: “Thực hiện các nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng; về cơ chế, chính sách và công tác giáo dục chính trị, tư tưởng” và công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải: “Thực hiện có hiệu quả các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là những nội dung liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết này. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch. Chủ động ngăn ngừa, đấu tranh phê phán những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội”.

Trường Chính trị với nhiệm vụ: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương); trưởng, phó phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương; trưởng, phó phòng của sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và tương đương; cán bộ dự nguồn các chức danh trên; cán bộ, công chức cấp cơ sở và một số đối tượng khác về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; về nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước và một số lĩnh vực khác”.

Với nhiệm vụ của mình Trường Chính trị không chỉ truyền thụ kiến thức và kỹ năng như: Trang bị những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; một số nội dung về khoa học hành chính; một số kiến thức về kỹ năng lãnh đạo, quản lý và nghiệp vụ về công tác Đảng, chính quyền, đoàn thể nhằm nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, khả năng giáo dục, động viên, tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ của người học, mà còn phải thông qua truyền thụ kiến thức và kỹ năng, Trường Chính trị góp phần nâng cao niềm tin vào sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nâng cao phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và học viên qua đây góp phần “đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng”, từng bước khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị của người đảng viên được hình thành qua giáo dục và rèn luyện trong tổ chức của Đảng và đồng thời cũng là kết quả của quá trình tích lũy vốn sống thực tiễn mà người đảng viên trải qua. Vốn sống ấy chứa đựng cả tri thức và cả kinh nghiệm, bao quát những lĩnh vực hoạt động và những quan hệ xã hội. Khi đã có vốn sống thực tiễn phong phú, kinh nghiệm dày dặn, cần có thêm tri thức để phân tích, chắt lọc, khái quát thành giá trị, để có thể tổng kết những vấn đề thực tiễn, phát triển lý luận, để không rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm cũng như tình trạng tách rời giữa lý luận và thực tiễn.

Xét về sự phát triển nhân cách của người đảng viên, mối quan hệ giữa vốn sống thực tiễn và học vấn; giữa kinh nghiệm và lý luận, giữa lý thuyết và thực hành, nếu được xử lý đúng đắn sẽ tạo nên cơ sở cho sự phát triển tính tích cực và sáng tạo của mỗi người. Người đảng viên trong công cuộc đổi mới và con người mới được đào luyện trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là con người có học thức, có tư duy khoa học, có tính tư tưởng cao, đồng thời, cũng là con người thiết thực trong hành động. Phải tránh rơi vào những cực đối lập làm cho con người không có sự phát triển lành mạnh về nhân cách hoặc thô thiển, thực dụng (sống và hành động tùy tiện, buông thả, chạy theo lợi ích vật chất) hoặc lý thuyết suông, không phải con người hành động (do tách rời lý thuyết với kinh nghiệm trong thực tiễn).

Trường Chính trị góp một phần rất quan trọng trong hình thành và phát triển nhân cách trên, để thực hiện tốt nhiệm vụ từ yêu cầu của Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Thứ nhất, từ sự truyền cảm của người giảng viên thông qua luận giải cơ sở khoa học và thực tiễn của đường lối đổi mới của đất nước, phản bác những luận điệu xuyên tạc, do đó người giảng viên không chỉ có kiến thức lý luận và thực tiễn mà còn phải có niềm tin và tình cảm, có đạo đức trong sáng (không thể được coi là người có đạo đức, là người xứng đáng với danh hiệu giảng viên - đảng viên của Trường Chính trị nếu người đó chỉ làm tròn nhiệm vụ, bổn phận của mình trong cơ quan, trong tập thể chi bộ, đảng bộ ở Trường nhưng lại thờ ơ với các sinh hoạt công dân ở địa phương, trước hết ở nơi cư trú. Càng chưa thể có đạo đức, nếu như mỗi giảng viên - đảng viên không góp phần vào việc hình thành dư luận xã hội tích cực, phê phán cái tiêu cực, cái ác, cái xấu đang diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội, trong thực tế), thông qua niềm tin và tình cảm, gương đạo đức của mình mà truyền cảm cho người học, củng cố, nâng cao niềm tin người học, muốn người học có niềm tin và đạo đức người dạy phải có niềm tin và đạo đức trước.

Thứ hai, xây dựng môi trường văn hóa chính trị chuẩn mực, yếu tố môi trường văn hóa chính trị ở đây là những nhân tố tác động bên ngoài gây ảnh hưởng niềm tin, lý tưởng và đạo đức người học.

- Các chuẩn mực trong giao tiếp, xử lý các mối quan hệ: thầy-trò, cấp trên-cấp dưới, đảng viên-đảng viên (đồng chí); nhân viên-học viên…
- Tính công bằng trong quản lý, quá trình rèn ruyện và học tập của người học, trong đánh giá kết quả học tập.
- Xây dựng văn hóa công sở.

Thứ ba, phát huy dân chủ, tính sáng tạo, tích cực của người học. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch. Dự báo các biểu hiện chưa đúng có thể xảy ra để phòng tránh.

Tăng “sức đề kháng”, “miễn dịch” cho học viên để khi học viên tiếp xúc với xã hội, với các trang website, với các nguồn tin không chính thống thì biết phân biệt đúng sai, hợp lý hay bất hợp lý,…để củng cố niềm tin và hình thành cách nhìn, cách đánh giá cho đúng.

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trường Chính trị tiếp tục khẳng định và tăng cường những nội dung môn học về tư tưởng Hồ Chí Minh trong  đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức việc học tập một cách thiết thực, hiệu quả.

Trường Chính trị không chỉ là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức mà còn là nơi tiên phong trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Góp phần quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 xây dựng phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của học viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cải cách tổ chức bộ máy nhà nước đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện nay./.

Ngày Đăng :

Thạc sĩ Nguyễn Thị Yến
                                                                                  Trưởng khoa Dân vận

Thảo luận - xê-mi-na là một trong những khâu quan trọng trong quá trình học tập. Ngoài việc kiểm tra, thi,…để đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức của người học, thảo luận - xê-mi-na lại rất cần cho việc trao đổi, giải đáp, làm rõ những vấn đề khi lên lớp giảng viên chưa có cơ hội làm rõ những vướng mắc, yêu cầu, ý kiến đề xuất từ phía người học, những điều này thường dành trong thời gian thảo luận - xê-mi-na. Song một buổi (một ngày) thảo luận - xê-mi-na thành công hay không là do việc chuẩn bị tốt đề cương của người học và vai trò chủ trì của giảng viên quyết định. Đó là điều cần thiết đối với việc học tập nói chung, đặc biệt là học tập lý luận chính trị. Nhận thức rõ vấn đề này nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở Trường Chính trị, theo tôi cần làm rõ các nội dung sau:

1. Đối với người học

Thông thường sau mỗi bài giảng, giảng viên nêu lên những nội dung trọng tâm để học viên độc lập nghiên cứu. Qua mỗi câu hỏi, người học phải tìm những vấn đề trọng tâm, cốt lõi để lý giải vấn đề một cách tốt nhất.

Khi soạn đề cương thảo luận - xê-mi-na, tùy vào cách học của mỗi người cho nên khi phân tích vấn đề, luận giải từng phần, từng mục mỗi người thực hiện cũng khác nhau và cách chứng minh cũng khác, song điểm chung mà mọi người có được đó là sự nghiên cứu, kiên nhẫn tập trung khai thác và khám phá cái mới nhằm giải quyết những vấn đề rắc rối có trong từng câu thảo luận - xê-mi-na.

Thật tiếc nếu học viên đến lớp dự thảo luận - xê-mi-na không chuẩn bị đề cương một cách chu đáo, thậm chí không chuẩn bị một câu nào (với rất nhiều lý do khác nhau). Điều này sẽ đưa đến sự thất bại mà tôi cho là “tổn thất lớn” đối với người học. Vì thời gian có hạn, giảng viên không thể đi sâu từng vấn đề, người học sẽ không có cơ hội trình bày những gì mình còn vướng mắc và số lượng câu hỏi do người học không chuẩn bị sẽ kéo dài ra; có những học viên lại chuẩn bị đề cương mang tính đối phó, khi giảng viên hỏi đến đâu, học viên lật bài giảng hoặc giáo trình ra và đọc liền một mạch, thế là xong. Học viên lúc bấy giờ cứ đọc mà không biết cách tạo những điểm nhấn của kiến thức đã học để nó hằn sâu vào vỏ não, vào hệ thần kinh, họ cứ mặc nhiên để nó trôi tuột vào bầu không khí lạnh lùng nhưng vô cảm đó.

Thảo luận - xê-mi-na còn là quá trình để học viên rèn luyện kỹ năng nói trước đám đông, chính vì vậy nếu không chuẩn bị tốt đề cương sẽ không thể phát biểu tốt trong quá trình học tập tại trường. Khi trở về địa phương công tác, tiếp cận những yêu cầu thực tiễn đặt ra nhất là công tác vận động quần chúng, kỹ năng nói sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến công tác vận động quần chúng kém hiệu quả.

2. Đối với người dạy

Đối với một học viên việc không soạn đề cương khi đến lớp, xin mỗi người hãy tự đặt mình vào trường hợp của giảng viên khi đứng lớp thảo luận - xê-mi-na mà người chuẩn bị đề cương thì ít, người chờ ghi chép nội dung thảo luận thì nhiều, tâm thế của người giảng viên lúc ấy sẽ vô cùng buồn do:

+ Học viên không thể thực hành theo hướng dẫn của giảng viên trên lớp.

+ Buổi học sẽ không đạt yêu cầu về thời gian, nội dung, thay vì trong lớp cả giảng viên và học viên cùng trao đổi nhau những vấn đề đã học, giờ đây học viên cứ ghi chép, giảng viên cứ “thao thao bất tuyệt” những nội dung của đề cương, như vậy người dạy lại giảng bài tiếp lần hai, học viên lại ghi bài tiếp lần hai, xung quanh chỉ là bầu không khí trầm lắng, chỉ có tiếng giảng viên nhắc lại nội dung đã giảng và tiếng sột soạt của những ngòi bút thi nhau chạy rào rào trên trang giấy trắng.

+ Không khí thảo luận - xê-mi-na sẽ “biến tướng” thành một giờ nhắc lại bài cũ một cách bất đắc dĩ, người dạy cứ tiếp tục dò đường, người học tiếp tục ghi nhận những thông tin được giảng viên truyền đạt, có những thông tin có trong sách vở nhưng vẫn cứ ghi. Với tôi cách học như vậy là không chấp nhận được, điều này sẽ thành tiền lệ nếu như nhà trường, giảng viên không có biện pháp kiên quyết trong việc nâng cao chất lượng trong các lần thảo luận - xê-mi-na. Muốn như vậy, đòi hỏi phải có giải pháp thích hợp. Theo tôi cần tập trung các phương pháp sau:

Một là, học viên phải tranh thủ soạn đề cương thảo luận - xê-mi-na sau mỗi bài vừa học. Khi chuẩn bị soạn thảo luận - xê-mi-na, tất yếu phải có quyển tập dành riêng để ghi chép, trong đó phải ghi chú cẩn thận: Môn học, bài học, nội dung thảo luận - xê-mi-na…

Với cách học này, khi soạn bài sẽ giúp người học nhớ lại những điểm chưa rõ; những nội dung cần tra cứu thêm theo gợi ý của giảng viên; chúng ta không quên soạn đề cương thảo luận - xê-mi-na như giảng viên đã dặn dò; số lượng câu hỏi ít, không quá ngại về mặt nội dung. Việc có quyển đề cương thảo luận - xê-mi-na sẽ tạo cho học viên cách làm việc khoa học, hiệu quả; có sự ghi chép cẩn thận, lưu trữ lại những thông tin mới, những tư liệu quý mà cả thầy và trò cùng nhau khám phá. .

Hai là, một trong những điều tối cần thiết là học viên phải đọc kỹ câu hỏi, gạch dưới những từ cần chú ý, xác định nội dung câu hỏi, khi soạn hãy tự vấn mình về câu hỏi giảng viên đặt ra, đâu là lý luận? Đâu là thực tiễn? những nghị quyết, văn kiện, tài liệu có liên quan; đồng thời kèm theo những câu hỏi như: Tại sao, vì sao, nếu như…thì sẽ…để người soạn có thể lật ngược vấn đề, có như vậy bài soạn mới thực sự là kiến thức của chính mình.

Ba là, khi soạn đề cương người học phải biết sắp xếp những thông tin, tài liệu tham khảo, biết phân biệt ý chính, ý phụ, luận cứ, luận điểm phải rõ ràng; nên soạn khái quát có thể theo dạng sơ đồ, hình xương cá, chân chim, mindmap…điều cần tránh người học không bê toàn bộ bài giảng của giảng viên hoặc những nội dung có trong giáo trình cũng như những nội dung được tra cứu trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa vào, điều này sẽ thiếu sự kích thích, sáng tạo của người học.

Bốn là, khi soạn đề cương thảo luận - xê-mi-na, học viên cần chú ý số liệu, tư liệu tham khảo, nguồn, những thông tin liên quan; mối liên hệ của từng nội dung, tìm những thông tin phù hợp, không phù hợp để lập luận, diễn giải,…cho rõ ý.

Năm là, không nên thực hiện phương pháp phân công một nhóm đối tượng biên soạn, số còn lại sẽ góp ý bổ sung (nếu cần). Đây là nguyên nhân dẫn đến tư tưởng chủ quan, trông chờ, ỷ lại, là điều vô cùng tai hại đối với người học, do người trong tổ (nhóm) được phân công sẽ yên tâm đã có người thực hiện thay, với lối suy nghĩ này buổi thảo luận sẽ không mang hiệu quả cao, vì số lượng học viên chuẩn bị đề cương chỉ chiếm số ít người trong lớp, do đó khâu chuẩn bị đề cương thảo luận - xê-mi-na bị dẫn dắt sai đường, lệch hướng,…kém hiệu quả. Từ đó sẽ tạo nên tâm lý coi thường những buổi thảo luận - xê-mi-na, sự chán ngán, uể oải, tạo sức ì khi tham gia học tập của người học.

3. Tổ chức thảo luận - xê-mi-na

Đây là khâu làm việc giữa giảng viên và học viên, đỏi hỏi phải có sự chuẩn bị thật chu đáo, trong buổi thảo luận - xê-mi-na phải được xem là cuộc trao đổi, đối thoại trực tiếp giữa giảng viên và học viên; giữa những học viên với nhau. Giảng viên có thể dùng phương tiện giảng dạy như phấn bảng, giấy viết, bảng nhóm, hình ảnh minh họa,…với những phương pháp như đóng kịch, làm việc nhóm, trò chơi hỏi – đáp,… Học viên có thể đặt ra những vấn đề cần giảng viên và các học viên cùng lớp giải quyết, đó là thông tin, số liệu, sự việc liên quan đến nội dung buổi thảo luận - xê-mi-na.

Những điều cần tránh trong buổi thảo luận - xê-mi-na:

Không thách đố nhau, không làm khó nhau, không tra vấn, không nên quá sa đà vào những nội dung không cần thiết, không nên biến một buổi thảo luận - xê-mi-na thành một cuộc tranh luận vô bổ, không nên thảo luận những vấn đề quá chi tiết, vụn vặt mà cần tập trung những vấn đề trọng tâm…

Không nêu ra những vấn đề khó hiểu, tế nhị, nhạy cảm,…người giảng viên chủ trì thảo luận - xê-mi-na phải có nghệ thuật làm cho không khí buổi thảo luận - xê-mi-na được thoải mái, phải có không khí của một cuộc tranh luận, khám phá và đi tìm cái đúng, cái cần thiết do người học đặt ra trong mỗi buổi thảo luận - xê-mi-na.

Điều cần tránh trong buổi thảo luận - xê-mi-na là không nên tạo ra bầu không khí quá trầm lắng, ý kiến phát biểu ít, hạn chế sự tranh luận, giảng viên phó mặc cho thời gian trôi, học viên mong chờ cho hết giờ để ra về, nếu một buổi thảo luận - xê-mi-na như vậy cho thấy rõ cả hai phía giảng viên và học viên chưa làm hết việc của mình, thật uổng phí và đáng tiếc.

Tôi thiết nghĩ khi đến lớp dự buổi thảo luận - xê-mi-na, người giảng viên vừa phải có tri thức khoa học vững vàng; có năng lực và nghệ thuật tổ chức buổi thảo luận - xê-mi-na thật hào hứng, sôi nổi; người giảng viên phải có cách ứng phó trước mọi tình huống: Đó là học viên soạn hoặc không soạn đề cương; học viên hỏi ít, hỏi nhiều hoặc không hỏi; người giảng viên phải luôn chủ động để xử lý những tình huống thụ động của mỗi buổi thảo luận, xê-mi-na để truyền cảm hứng đến người học để người học thấy rõ ích lợi của buổi thảo luận, xê-mi-na. Cốt lõi của vấn đề ở đây là người dạy giữ vai trò chủ đạo, người học giữ vai trò chủ động.

Với người học, cần tuân thủ một cách nghiêm ngặt nội qui, qui chế học tập của nhà trường khi đến lớp, người học phải thấy được tầm quan trọng đặc biệt của buổi thảo luận - xê-mi-na. Bản thân mỗi người học phải biết hòa vào không khí học tập của lớp, biết thực hiện đúng theo lịch học, giờ nào việc ấy, phải xem thảo luận - xê-mi-na cũng là một buổi học chính thức, mỗi chúng ta phải chấp hành đúng nhiệm vụ học tập của những buổi học chính thức ấy.  

Thảo luận - xê-mi-na sẽ mang lại cho chúng ta rất nhiều bổ ích nếu chúng ta hiểu đúng về nó, hy vọng rằng qua bài viết này sẽ phần nào giúp cho người học thấy rõ hơn giá trị của buổi thảo luận - xê-mi-na./.

Ngày Đăng :

Thạc sĩ Trần văn Hòa
                                                                                     Khoa Xây dựng Đảng

1. Người thầy giáo phải thật sự mẫu mực dạy người, dạy chữ

Trong mọi giai đoạn lịch sử, người thầy bao giờ cũng được xã hội tôn vinh và kính trọng. Nghề giáo được coi là một trong những nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Nhiệm vụ thầy giáo rất vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục…Không có giáo dục thì nói gì đến kinh tế, văn hóa. Bác xem việc dạy học là một nghề đào luyện những thế hệ con người xây dựng xã hội. Tuy sự cống hiến của thầy giáo là rất thầm lặng nhưng nếu trở thành một người thầy giáo tốt là điều vô cùng hữu ích và rất mực vẻ vang. Vì thế, Người dạy: Người thầy giáo tốt là người vẻ vang nhất. Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh.

 Nhiệm vụ của người thầy giáo không chỉ là sự truyền bá tri thức, phương pháp, tay nghề cho người học mà thầy giáo cũng như học trò, tất cả đều phải tham gia vào các công việc xã hội một cách thật tích cực. Nhà trường phải gắn liền với thực tiễn xã hội, gắn liền với đời sống của nhân dân. Đồng thời, Bác Hồ còn chỉ ra bản chất ưu việt của nền giáo dục trong xã hội mới là hoàn toàn khác với giáo dục trong xã hội cũ: Động cơ của người làm nghề thầy giáo không phải là mục đích kinh tế thuần túy mà là động cơ giáo dục gắn liền với mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể theo nhu cầu của xã hội, phải đáp ứng được lợi ích của nhân dân, vì sự mưu cầu hạnh phúc cho con người.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, người làm thầy giáo phải luôn là tấm gương không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để làm tấm gương sáng cho học trò noi theo, để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới trên mọi phương diện.

Người thầy giáo phải luôn gương mẫu trong học tập, trau dồi trình độ chuyên môn, tri thức khoa học, phải là tấm gương tự học với quan niệm “Sự học không bao giờ cùng” để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời đại trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trước tình hình mới. Đặc biệt là trong bối cảnh khoa học-công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay thì tấm gương tự học của người thầy càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Người thầy giáo luôn tự rèn luyện và trở thành tấm gương sáng về đạo đức cách mạng cho người học nói riêng và mọi người nói chung noi theo. Hình ảnh người thầy giáo luôn được xã hội xem là biểu tượng của văn hóa, là đại diện cho văn minh thời đại.

2. Người thầy giáo cần phải có những phẩm chất: Cái “tâm”, “tài” và “đức” trong nghề dạy học của mình

Về cái “Tâm” đối với nghề giáo là một yêu cầu quan trọng không thể thiếu được. Người thầy phải có tâm huyết với nghề mới có hứng thú, say mê chăm chút từng bài giảng, từng nội dung tiết giảng; mới thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu, chỉnh lý, bổ sung nội dung và phương pháp giảng dạy để đem lại hiệu quả cao nhất cho người học. L.N.Tônxtôi đã nói: Để đạt được thành tích trong công tác, người thầy giáo phải có một phẩm chất - đó là tình yêu. Người thầy giáo có tình yêu trong công việc là đủ cho họ trở thành người giáo viên tốt.

Cái “Tâm” người thầy giáo tốt không phải chỉ lòng yêu ngành, yêu nghề mà phải được biểu hiện thành những hành động cụ thể:

Thứ nhất, phải biết hiến thân cho nghề dạy học, biết hi sinh vì lợi ích tương lai, vì học sinh thân yêu.
Thứ hai, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm với nghề nghiệp. Phải cảm thấy sung sướng, hạnh phúc khi được đứng lớp. Không có thái độ miễn cưỡng khi được phân công lên lớp.
Thứ ba, luôn tìm tòi, học hỏi, sáng tạo để đem lại chất lượng cao nhất khi giảng dạy, thầy giáo không bị giới hạn không gian (lớp học) và thời gian (08 giờ vàng ngọc), không phải bước ra khỏi lớp học là chấm dứt hoạt động sư phạm mà vẫn tiếp tục suy nghĩ về nội dung, phương pháp giảng, về thái độ tiếp nhận bài học của sinh viên để tự đổi mới.
Thứ tư, nhiệt tình trong xây dựng đơn vị, chân thành trong giúp đỡ đồng nghiệp.

Về cái “Tài” của người thầy, “Tài” ở đây thể hiện tài năng về trí tuệ và tài năng nghiệp vụ sư phạm. Tài năng sẽ giúp cho người dạy nắm vững và nhuần nhuyễn nội dung hệ thống các kiến thức cơ bản của môn học, khả năng phát hiện vấn đề bổ sung vào nội dung bài giảng; tài năng nghiệp vụ sư phạm thể hiện ở việc áp dụng các phương pháp giảng dạy, khả năng trình bày và khả năng xử lý các tình huống sư phạm trong quá trình giảng dạy. Kết hợp được giữa nội dung và phương pháp sẽ làm cho bài giảng thêm phong phú, sinh động, hấp dẫn và có hiệu quả cao, làm cho người học hứng thú, say mê, tránh nhàm chán, từ đó chủ động, tích cực nghiên cứu, tìm hiểu trong học tập. Để thỏa mãn các điều đó, người thầy phải hội tụ đủ các năng lực sau đây:

Một là, có năng lực về tri thức và tầm hiểu biết.

Đây là năng lực trụ cột của năng lực sư phạm, là điều kiện để giảng dạy, “biết mười dạy một”. Ngày nay, người học không nhất nhất cái gì cũng tuân thủ, phục tùng thầy vô điều kiện. Họ được tiếp cận rất nhiều thông tin, hiểu biết rất nhiều, là thầy, phải chinh phục trò bằng kiến thức sâu rộng của mình, điều đó còn có tác dụng tạo uy tín cho người thầy.

Hai là, có năng lực chế biến tài liệu học tập từ chương trình khung

Thầy giáo phải gia công về mặt sư phạm đối với tài liệu học tập cho phù hợp với đặc điểm từng lớp học, đối tượng, chuyên ngành đào tạo. Thực trạng cho thấy, vẫn còn nhiều giáo án trong tình trạng “chết”, không được bổ sung cập nhật, giáo án sử dụng chung cho tất cả các hệ học. Cho nên, người thầy giỏi là người thầy hiểu học sinh, đặt mình vào vị trí người học để chế biến, trình bày tài liệu đúng với đối tượng. Người thầy có khả năng phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa được kiến thức, thấy được cái gì là cơ bản nhất và mối quan hệ với cái thứ yếu. Ngoài ra, người thầy phải có sự sáng tạo trong cung cấp kiến thức cho người học, bên cạnh kiến thức tinh tế và chính xác, đòi hỏi phải liên hệ được nhiều mặt giữa kiến thức cũ và mới, kiến thức bộ môn này với bộ môn khác, liên hệ thực tiễn gắn với từng chuyên ngành đào tạo.

Ba là, có năng lực dạy học tốt

Người thầy tốt không chỉ truyền kiến thức cho người học mà có nhiệm vụ tổ chức và điều khiển hoạt động của họ, hướng họ đi tìm kiếm và lĩnh hội tri thức. Disterwey - một nhà sư phạm người Đức đã nhấn mạnh: “Người thầy giáo tồi là người mang chân lý đến sẵn, còn người thầy giáo giỏi là người biết dạy học sinh đi tìm chân lý”. Chính vì vậy người thầy phải: Nắm vững và sử dụng hợp lý các phương pháp dạy học tiên tiến; rèn luyện năng lực ngôn ngữ truyền đạt kiến thức rõ ràng, dễ hiểu, vừa sức.

Ngoài ra, người thầy còn phải có cái “Đức”, “Đức” là yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi giảng viên. Có “Tâm”, có “Tài” cũng chưa là người thầy tốt. Bác Hồ đã từng nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng”. Càng quan trọng đối với lĩnh vực giáo dục, để tạo ra nhân cách người học thì trước hết người thầy phải biết thuyết phục học sinh bằng chính nhân cách của mình...

Muốn xây dựng được nhân cách cho người học, người thầy trước hết phải có “Đức” thể hiện ở thái độ, tác phong chuẩn mực khi thực hiện giảng dạy và trong lối sống, trở thành tấm gương, vừa là người thầy, vừa là người cán bộ ưu tú, chuẩn mực cho người học noi theo. Phải làm sao để mỗi người thầy không những là nhà sư phạm mà còn là nhà mô phạm.

Cái “Đức” của người thầy thể hiện ở sự hi sinh vô tư “tất cả vì học sinh thân yêu”, giúp đỡ người học một cách chân thành, không vì vụ lợi, không phân biệt đối xử, giúp đỡ trong hỗ trợ kiến thức phải đến nơi đến chốn; giúp đỡ không có nghĩa là cho điểm cao, dễ dãi đối với người học trong học tập. Cái “Đức” ấy còn được biểu hiện ở sự kiên quyết đấu tranh chống những cái xấu, cái sai trong xã hội, trong chính bản thân mình và trong đồng sự. Bác Hồ dạy: Thầy giáo và học sinh phải thật thà. Sống thật, nói thật, làm thật để cống hiến thật sự, để lời nói đi đôi với việc làm, làm có ích cho Tổ quốc, cho nhân dân và cho xã hội, cho chính bản thân mình.

Ngày nay, những tình cảm tốt đẹp có tính truyền thống đó của người thầy vẫn được duy trì. Đảng và nhà nước ta cũng đã xác định "Giáo dục là quốc sách hàng đầu", đã và đang làm những gì có thể đối với ngành giáo dục bởi tầm quan trọng và ý nghĩa lớn lao của ngành đặc thù này đối với sự phát triển trong hiện tại cũng như tương lai của xã hội và đất nước. Sứ mệnh "trồng người" hết sức thiêng liêng, cao quí nhưng cũng hết sức nặng nề được đặt lên vai người thầy./.

Ngày Đăng :

Thạc sĩ Phan Văn Thuận
Trưởng khoa Xây dựng Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và là linh hồn của Mặt trận Dân tộc thống nhất. Sinh thời, Người rất coi trọng vai trò của quần chúng nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.
Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn
 
Theo Người, quần chúng nhân dân là tất cả những người Việt Nam yêu nước, thương nòi, những ai “thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”, những ai “có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân” trên cơ sở nòng cốt là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Bác thường nói: “Cách mạng là sự nghiệp chung của quần chúng, chứ không phải của riêng cá nhân anh hùng nào, cách mạng muốn thành công phải đoàn kết. Đoàn kết tạo nên sức mạnh vô địch”[1]. Vai trò và sức mạnh dời non lấp biển của quần chúng nhân dân phải được tập hợp và phát huy trong một Mặt trận dân tộc thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mặt khác, trong chiều sâu tư tưởng của Người, quần chúng nhân dân còn là đối tượng phục vụ của cách mạng. Làm cách mạng là để đem lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân. Đặc biệt, Người còn nhấn mạnh: Nước độc lập, tự do mà dân còn đói rét thì độc lập, tự do cũng chẳng có ý nghĩa gì. Dân chỉ biết độc lập, tự do khi được ăn no, mặc ấm,… Đảng, Chính phủ phải chăm lo ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân; Mặt trận và các đoàn thể quần chúng là nơi trực tiếp tổ chức, động viên, chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng và thiết thực của quần chúng nhân dân. Vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Bác Hồ rất coi trọng vai trò và luôn đặc biệt quan tâm xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết, tập hợp, phát huy vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân.

Khi “bắt gặp chủ nghĩa Lênin”, tìm thấy “cái cần thiết” và “con đường giải phóng” cho dân tộc Việt Nam, Người đã có ý định “trở về nước, đi vào quần chúng, giác ngộ họ, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập” [2]. Sau 30 năm bôn ba nơi hải ngoại, Người trở về nước, chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (1941) và chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), tập hợp sức mạnh toàn dân làm nên Cách mạng Tháng Tám thần kỳ, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, Người cùng với Đảng ta chủ trương thành lập các tổ chức rộng rãi khác, tiêu biểu là Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt), xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng. Đến tháng 3 năm 1951 tiến hành Đại hội thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt. Trong dịp này, Người xúc động nói: “Một người đã cùng các vị đấu tranh bấy nhiêu năm cho khối đại đoàn kết toàn dân, hôm nay trông thấy những cây đại đoàn kết  ấy đã nở hoa kết quả và gốc rễ nó ăn sâu, lan rộng khắp toàn dân và nó có một tương lai “trường xuân bất lão”. Vì vậy nên tôi vui sướng vô cùng”[3]. Cái “gốc rễ” và hoa, quả đó chính là khối đoàn kết toàn dân thực hiện “kháng chiến, kiến quốc” và kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.

Trong quá trình xây dựng tổ chức và lãnh đạo Mặt trận cũng như các đoàn thể quần chúng, Bác Hồ đã để lại cho chúng ta những tư tưởng và kinh nghiệm rất phong phú về công tác xây dựng Mặt trận và các đoàn thể. Theo Người, xây dựng Mặt trận và các đoàn thể cần quán triệt và thực hiện những luận điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, các đoàn thể cần phải được xây dựng từ thấp đến cao phù hợp với nhận thức của các đối tượng quần chúng nhân dân.

Thứ hai, hình thức (tên gọi của Mặt trận và các đoàn thể) phải đa dạng, phù hợp từng lứa tuổi, ngành nghề, giới tính,…của các thành viên; đồng thời phải phản ánh đúng mục tiêu chính trị của Mặt trận, từng đoàn thể cũng như của từng thời kỳ cách mạng.

Thứ ba, Cương lĩnh hoạt động, chương trình hành động của các tổ chức quần chúng phải hết sức rõ ràng, thiết thực; nội dung phương pháp phù hợp với đặc điểm, các hoạt động và nguyện vọng, yêu cầu của quần chúng.

Thứ tư, cán bộ Mặt trận và các tổ chức quần chúng phải đặt công tác dân vận lên hàng đầu, phải “hòa mình với quần chúng thành một khối”, “cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm…chứ không chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh, phải thật thà nhúng tay vào việc…”[4].

Ngày nay, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải phát huy sức mạnh toàn dân tộc làm động lực cơ bản. Trong đó, "Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" là cơ chế vận hành của chế độ ta, là phương thức tổ chức nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Theo cơ chế ấy, Ðảng, Nhà nước và nhân dân đều là những chủ thể của quyền lực nhưng quyền lực của mỗi chủ thể ấy lại không giống nhau. Quyền lực của Ðảng là quyền lãnh đạo, bao gồm cả quyền lãnh đạo chính quyền nhưng bản thân Ðảng lại không phải là chính quyền nhà nước, không làm thay cho Nhà nước. Quyền lực nhà nước bao gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng quyền lực ấy không phải do Nhà nước tự có mà là do nhân dân giao phó cho những cơ quan quyền lực do mình cử ra. Quyền lực của nhân dân là quyền của người làm chủ đất nước và quyền làm chủ ấy được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, kể cả dân chủ tự quản ở cơ sở. Mẫu số chung của ba loại quyền lực nêu trên (lãnh đạo, quản lý và làm chủ), xét cho cùng là tư tưởng Bác Hồ từng nêu lên trong bài báo "Dân vận" viết năm 1949: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân...Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra...Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [5]

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân làm chủ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta; phải xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân, đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, có nhiệm vụ không chỉ động viên, giúp đỡ đoàn viên, hội viên tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà còn thực hiện vai trò phản biện và giám sát. Vì vậy, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, không chỉ đơn thuần là thực hiện những lời dạy của Người mà còn phải biết thấu hiểu và thấu cảm cái tinh túy trong chiều sâu tư tưởng và việc làm của Người. Từ đó, hình thành nên “cái trí”, “cái tâm”, “cái tầm” và nhất là phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân” để “lắng nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” cùng phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

                                                                                                                                                                                                      

Ghi chú

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, Tr. 276.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T 2, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr. 132.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 6, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, Tr. 48.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, Tr.699-700.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, Tr.598.
Ngày Đăng :

Thạc sĩ Phan Văn Thuận
                                                                               Trưởng khoa Xây dựng Đảng

 

Ông cha ta có câu “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Như “thông lệ” hàng năm, cứ đến dịp hè là đội ngũ cán bộ, giảng viên chúng tôi được Ban Giám hiệu tổ chức đi thực tế nhằm trao đổi kinh nghiệm, học hỏi, giao lưu với các trường chính trị và nghiên cứu, tìm hiểu các di tích lịch sử - văn hóa, các cơ sở kinh tế,…ở các địa phương. Tuy nhiên, mùa hè năm nay, chúng tôi có một chuyến đi khá đặc biệt và “học” được rất nhiều “sàng khôn”.

Điểm đầu tiên mà chúng tôi đến là Côn Đảo - ngày xưa là “địa ngục trần gian” và nay đã trở thành “báu vật” và là “vùng đất thiêng” của Tổ quốc ta.

Theo kế hoạch, chúng tôi đến Côn Đảo bằng tàu thủy để cho chúng tôi và những cán bộ giảng viên trẻ, có thể “trải nghiệm” một phần, dù rất nhỏ, cảm giác của những khó khăn, gian khổ của những chiến sĩ cách mạng vượt ngục, vượt biển năm nào. Tuy nhiên, do thời tiết không thuận lợi, chúng tôi phải đi bằng máy bay. Vì vậy, chúng tôi lại có dịp may mắn là có thể nhìn Côn Đảo từ trên cao. Từ trên cao nhìn xuống, phía dưới chỉ toàn mây và mây, thỉnh thoảng, có những vạt nước hiện ra có lúc trắng xóa, có lúc mờ ảo, lau lách phía bên dưới, đó chính là biển Đông!

Sau gần 45 phút khởi hành, tiếng cô tiếp viên hàng không thông báo trên loa: “Máy bay chúng tôi chuẩn bị hạ cánh. Đề nghị quý khách kiểm tra lại dây thắt lưng an toàn để tiếp đất”. Có khá nhiều người hướng mắt về phía cửa sổ. Có lẽ, ai cũng muốn nhìn rõ Côn Đảo từ trên cao, để hình dung miền đất ấy thật ra thế nào, nhất là hình dạng của nó giữa sự mênh mông của biển cả. Giữa muôn ngàn đợt sóng nhấp nhô, phía dưới một vệt xanh đậm nổi lên, khi mờ, khi khuất giữa những lượn sóng bạc đầu. Vệt xanh đậm càng rõ, càng to dần và những vạt rừng núi trùng điệp xanh thẳm mượt mà nối tiếp nhau nổi lên như đội hạm tàu hùng dũng giữa biển Đông mênh mông.

Côn Đảo (trước đây còn gọi là Côn Sơn) là một quần đảo gồm 16 hòn đảo với tổng diện tích 76 km² nằm ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý. Trước thế kỷ XX thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn hoặc Côn Nôn; tên gọi cũ trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp là Poulo Condor. Năm 1977, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tên gọi chính thức là Côn Đảo. Hiện nay, Côn Đảo là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Bà Rịa - Vùng Tàu.

Đường từ sân bay Cỏ Ống (Côn Sơn) vào trung tâm huyện đảo dài khoảng 10 km và đây là con đường duy nhất, chạy dọc ven biển. Những cung đường được tráng nhựa phẳng lỳ nhưng quanh co, hiểm trở. Cảm giác đi trên cung đường ấy thật lạ, hồi hộp và đầy ấn tượng. Một bên biển, một bên núi, nhìn đâu cũng cảm thấy hoang sơ, hoành tráng, trong lành và thấy mình chừng như nhỏ bé trước những cơn gió lồng lộng, rười rượi thổi vào từ phía biển.

Côn Đảo là một huyện có chính quyền một cấp (thông qua các cơ quan chức năng huyện trực tiếp đến địa bàn dân cư, không có các cấp phụ thuộc như xã, phường hay thị trấn), với tổng số gần 7000 nhân khẩu sinh hoạt trong 10 khu dân cư. Anh Thắng, Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Côn Đảo còn cho biết thêm: Ngoài những người “bản địa”, nơi đây còn “hội tụ” gần như tất cả “đại diện” các tỉnh, thành trong cả nước. Côn Đảo có hạ tầng - kỹ thuật khá hoàn thiện với hệ thống đường xá rộng rãi, sạch đẹp, trường học khang trang; 4 mạng điện thoại di động được phủ sóng với chất lượng sử dụng rất tốt và hệ thống internet tốc độ cao ASDL được kết nối đảm bảo công tác thông tin liên lạc thông suốt. Ngoài ra, Côn Đảo còn có đài phát thanh và truyền hình, hệ thống các chi nhánh ngân hàng, các khu resort, khách sạn, nhà nghỉ và các dịch vụ du lịch khác,…Trước cuộc sống yên bình ấy, mấy ai nghĩ rằng cho đến ngày Côn Đảo được giải phóng nơi đây từng khét tiếng là “địa ngục trần gian”!
 
 Di tích Cầu tàu 914

Người Trung Quốc thường nói vui đầy tự hào rằng: “Bất đáo trường thành phi hảo hán” và câu chuyện kể rằng, một cụ già trước khi qua đời, ngẫm mình tuổi già sức yếu, chẳng sống bao lâu nên nhất mực đòi con cháu phải cõng lên thăm “Vạn lý trường thành” một phen cho thỏa chí. Những ai đã từng chiến đấu ở Trường Sơn cũng thường tự hào về sự trải nghiệm cái khắc nghiệt của mình với câu thơ: “Trường Sơn đông nắng, tây mưa/Ai chưa đến đó như chưa rõ mình”.

Đối với chúng tôi, Côn Đảo không có cái vẻ uy nghi như “Vạn lý trường thành”, không oai hùng như Trường Sơn kỳ vĩ; nhưng lại hội tụ tất cả những đặc trưng của “vùng đất thiêng” của Tổ quốc. Hơn 100 năm đô hộ của các thế lực thực dân, đế quốc đã biến Côn Đảo thành “địa ngục trần gian”. Mười sáu hòn đảo của Côn Đảo giữa biển khơi xanh biêng biếc, cây cối xum xuê mượt mà phải đè nặng trên mình những nhà tù, tháp canh, trại lính…  Chính nơi đây đã ghi dấu tội ác dã man của thực dân đế quốc đối với dân tộc ta. “Cầu tàu 914” - nơi có ít nhất 914 người đã ngã xuống trong quá trình lấy đá từ Núi Chúa mang ra biển để xây dựng cầu tàu. “Ma Thiên Lãnh” - cái tên mới nghe thôi cũng đã cảm thấy rợn người, là nơi từng có ít nhất 356 người (theo nhẩm tính của các tù nhân, thực tế có thể còn cao hơn) ngã xuống bởi đòn roi, tra tấn, hành hạ dã man của kẻ địch. Những khu trại giam [Bagne 1, tức trại Phú Hải; Bagne 2, tức trại Phú Sơn; Bagne 3, tức trại Phú Thọ (Chuồng gà), Bagne 3 phụ, tức trại Phú Cường…], khu biệt lập chuồng bò, “khu tắm nắng” với kiểu tra tấn “tứ trụ” dã man và đặc biệt là hệ thống chuồng cọp nổi tiếng,…làm cho “Côn Nôn đi dễ khó về/Già đi bỏ xác, trai về nắm xương".

 Côn Đảo cũng là nơi thử thách lòng kiên trì, sự quyết tâm, ý chí bền gan,…của người “hảo hán”, những chiến sĩ yêu nước như cụ Phan Châu Trinh từng tuyên bố: “Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/Lừng lẫy làm cho lỡ núi non/Xách búa đánh tan năm bảy đống/Ra tay đập bể mấy trăm hòn”. Đồng thời, đây còn là nơi từng có các bậc anh hào “tụ hội” (như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Lê Hồng Phong, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Cừ, Võ Thị Sáu, Lê Duẩn, Trương Mỹ Hoa, Nguyễn Văn Bích, Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre và là chồng của nữ tướng Nguyễn Thị Định,…) mà ở họ không chỉ sáng ngời những tấm gương hy sinh cao cả, ý chí bất khuất trước kẻ thù mà còn lắng đọng trong mỗi người khi có dịp đến thăm là tấm lòng nhân ái, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau trong khó khăn hoạn nạn, thậm chí ngay cả trước khi chết của người chiến sĩ yêu nước, chiến sĩ cách mạng. Ngay cả trong ngục tối, người tù Côn Đảo, người chiến sĩ vẫn đấu tranh không ngừng nghỉ, vẫn kiên định một lòng, thà chết chứ không khai bất cứ điều gì tổn hại đến sự nghiệp chung của cách mạng; chấp nhận gian khổ, hi sinh để bảo vệ đồng đội, đồng chí của mình. Và cũng chính trong chốn “địa ngục trần gian”, “có đi không có về” ấy, những chiến sĩ cách mạng vẫn không hề mất niềm tin, họ biến nơi đây thành trường học cách mạng, là nơi rèn luyện khí tiết của mình. Khái quát phẩm chất cao đẹp đó là tượng đài “Chết còn cởi áo cho nhau” ở sân hành lễ tại trung tâm Nghĩa trang Hàng Dương. [Người trao áo là đồng chí Vũ Văn Hiếu, Bí thư đầu tiên của khu mỏ Hòn Gai (1930). Người nhận áo là cố Tổng Bí thư Lê Duẩn]. Bức tượng đầy ý nghĩa này thắm đượm tình người, ngời sáng tình đồng chí cao lồng lộng giữa Nghĩa trang Hàng Dương, nơi yên nghỉ của hàng nghìn người con ưu tú của dân tộc, của Đảng đã hy sinh oanh liệt và chiến thắng vẻ vang trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy, chẳng là quá đáng khi nói rằng, Côn Đảo chính là “vùng đất thiêng”, “bàn thờ thiêng” của Tổ quốc. Thôi thúc và vẫy gọi chúng tôi hành hương về Côn Đảo là “tìm về thánh địa”. Nơi đây, từ năm 1862 đến năm 1975, những chiến sĩ yêu nước và cách mạng bị các thế lực đế quốc và phản động đày ra đảo bằng tất cả các nhục hình trần gian, đầy ải cho đến chết dần, chết mòn (với hơn 20 nghìn tù nhân đã bỏ mình tại Côn Đảo, nhưng đến nay theo các đồng chí hướng dẫn viên của Bảo tàng lịch sử Côn Đảo cho biết: Nghĩa trang Hàng Dương mới chỉ quy tập được hơn 2000 ngôi mộ, trong đó có 23 ngôi mộ tập thể, 600 ngôi mộ có tên, còn lại là vô danh); nhưng lòng yêu nước không bị khuất phục, các thế hệ nối tiếp nhau bền gan, vững chí góp phần giành thắng lợi vẻ vang vì độc lập, tự do cho Tổ quốc. Côn Đảo không chỉ là nơi tù đày mà là chiến trường mặt giáp mặt với kẻ thù - ý chí sắt đá, lòng dũng cảm quật cường đối lại với sức mạnh và đòn roi, súng đạn ngục tù. Côn Đảo là trường học thực tiễn đã “đào tạo” những thế hệ cách mạng làm nên chiến thắng vĩ đại trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính tinh thần và dũng khí đó đã hun đúc nên những giá trị cao quý và truyền lại để tạo sức mạnh và niềm tin vững chắc cho những thế hệ chúng tôi hôm nay.

 Quá khứ chẳng thể ngủ yên khi nỗi mất mát của con người quá lớn mà trong câu chuyện kể của người hướng dẫn viên hôm nay có cả cái đau, cái thương, cái hùng, cái dũng của một thời quá khứ, làm cho chúng tôi lặng người trước những câu chuyện kể tội ác của kẻ địch, về tình người, tình đồng chí, về sự chịu đựng, hi sinh… với niềm cảm phục, tự hào và chợt nhận ra những giọt nước mắt ấm nóng không chỉ lăn trên mỗi gò má của mình.

Những cầu tàu, trại giam, chuồng cọp, chuồng bò,…năm xưa vẫn còn đó nhưng Côn Đảo hôm nay đã không còn là “địa ngục trần gian”. Quá khứ đã khép lại, cánh cửa nhà tù cũng khép lại và trở thành một trong những di tích lịch sử quốc gia đặc biệt (theo Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ). Côn Đảo trở thành là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia được nhiều du khách đánh giá là thiên đường của nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên với các chương trình du lịch sinh thái phong phú, đa dạng.

Tạm biệt Côn Đảo, chúng tôi trở về đất liền, tạm biệt một phần máu thịt của non sông, tạm biệt những người con ưu tú của Tổ quốc... Hành trình đến Côn Đảo để lại cho chúng tôi những cảm xúc khó quên và những bài học vô cùng bổ ích để củng cố niềm tin và sức mạnh, cống hiến hết sức mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thân yêu, xứng đáng với bao xương máu cha anh đã đổ xuống cho sự nghiệp giải phóng quê hương./.

CHUYÊN ĐỀ

hcm

Thư viện ảnh