Nghiên cứu trao đổi

Ngày Đăng :

 Thạc sĩ Nguyễn Thị Nga
                                                                  Khoa Xây dựng Đảng

 

Cuộc sống ở làng quê rất bình dị, cuộc sống gia đình Cô càng bình dị hơn. Con cái đã thành đạt, yên bề gia thất, sống và làm việc ở chốn thành thị nhưng Cô vẫn ở quê nhà, cuộc sống vẫn giản dị, đơn sơ từ bấy đến giờ. Trong những lần về quê, tôi thường đưa con đến thăm Cô giáo cũ. Con đường về nhà Cô rất đỗi thân quen. Đó cũng chính là con đường mà một thời ấu thơ tôi đã đi lại lắm lần.

Mỗi lần gặp Cô, tôi thấy mình như được tiếp thêm sức lực. Cô là tấm gương để tôi soi vào đó và hoàn thiện bản thân mình. Ở mỗi vai trò khác nhau, cuộc sống của Cô đã cho tôi những bài học lớn.

Cô giáo tôi sống rất giản dị. Một ngôi nhà nhỏ, đơn sơ nhưng đầm ấm, chứa chan tình cảm của một đôi vợ chồng già tuổi ngoài 80, sáng sáng, chiều chiều trồng cây, hái trái, chăm mấy con gà ở sân sau. Suốt mấy mươi năm, nếp sống của gia đình Cô vẫn giữ vẹn nguyên như cũ, không trang hoàng mà chỉ mua sắm những vật dụng thật sự cần thiết. Nhà cất một mái, lợp tôn chỉ với một phòng khách, một phòng ngủ và gian nhà bếp lợp lá. Sáng sáng, chiều chiều khói bếp củi vẫn ngoằn ngoèo bay vào không trung của một làng quê yên tỉnh. Gian nhà trên, trước bàn thờ tổ tiên là cái bàn dài được kê giữa, một kệ sách báo, cái ván gõ, cái võng, cái ghế bố, vài ba cái quạt tay bằng mo cau…

Cô giản dị từ trong lối sống đến cách ăn mặc. Từ thời tôi còn là một học sinh tiểu học cho đến bây giờ (tôi đã là một cô giáo sắp vào độ tuổi 40), trang phục của Cô vẫn là chiếc quần đen, áo bà ba màu sậm khi đi ra ngoài; ở nhà là chiếc quần đen, áo túi ngắn tay.

Cô sống rất mô phạm, mực thước, quan tâm đến mọi người xung quanh. Con đường trong ấp (dài hơn 1 km) được pê-tông hóa từ sự đóng góp vật chất của gia đình cô. Hàng xóm có hữu sự, ốm đau, cô thăm viếng bằng giỏ trái cây, trứng gà, mật ong,…Thế mà đến khi mình đau ốm, cô giấu đi, tự bản thân chiến đấu chống lại bệnh tật và lại sống một cuộc sống bình dị với những công việc hàng ngày, chăm sóc mảnh vườn, làm bà nội trợ chăm chỉ.

Cô là một cô giáo đúng với nghĩa “làm thầy giáo cho ra thầy giáo”. Cô rất tâm huyết với nghề. Cách đây hơn 40 năm, cô đã là cô giáo nổi tiếng trong làng. Phụ huynh đều rất an tâm khi con của mình được học ở lớp Cô. Ở quê tôi, có gia đình 3 thế hệ đều có người là học trò của Cô. Cô kể, lúc còn đi dạy, cô gọi nhằm tên học trò, cứ gọi “học trò con” bằng tên của “học trò cha”, có trường hợp “học trò con” lúng túng, ấp úng thưa với Cô đó là tên của cha con.

Cô vốn rất nghiêm khắc. Học trò vô cùng nể sợ Cô. Thậm chí là tôi, chưa từng bị Cô quở trách nhưng rất sợ, mỗi lần thấy dáng Cô đi phía trước là nấp vào trốn, để Cô đi qua rồi lẳng lặng đi sau ở một khoảng cách khá xa. Thời trẻ con thật là vụng dại.

Đối với tôi, Cô còn là cô giáo của riêng tôi. Cô dạy tôi lớp 5 nhưng Cô đã dõi theo bước chân tôi trong suốt chặng đường đời.

Ngôi nhà của Cô, cái bàn dài đặt giữa nhà là nơi rất thân quen với tôi. Tôi đã từng ngồi vào đó để Cô rèn viết văn, nghe cô động viên, khuyến khích cố gắng học tập. Tôi nhớ rõ như in những ngày tôi chuẩn bị thi vào sư phạm, gia đình không ai ủng hộ, Cô đã động viên tôi. Sợ công việc gia đình chi phối, Cô đã xin cho tôi đến nhà Cô ở để ôn thi. Vào những ngày ấy, tại cái bàn dài này, vào hai buổi sáng trưa, bên cạnh sách vở là ly sữa, đĩa bánh, trái cây. Tôi cảm thấy rất ấm áp. Trong cuộc đời, tôi chưa từng đứng vào vị trí số 1 được quan tâm, chưa từng được sự chăm sóc chu đáo như thế. Chính vì vậy, tại cái bàn này, tôi đã cố gắng học, học phần cho mình và học cả phần để đền đáp công ơn của Cô. Ngoài ra, nó còn là nơi để tôi chạy về ngồi vào đó báo cáo thành tích học tập. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là cũng tại cái bàn này, khi tôi đang học sư phạm, Cô hỏi: Em có người yêu chưa? Điều đó càng chứng tỏ vốn sống phong phú của Cô. Cô nghiêm khắc, sống chuẩn mực, có nguyên tắc, song cũng rất dạt dào tình cảm. Cho đến mãi sau này, cái bàn đó vẫn là nơi tôi trở về bên Cô, ngồi vào và kể cho Cô nghe chuyện công tác, chuyện người yêu, chuyện chồng con,…Nhưng giờ đây, mỗi một lần ngồi vào cái bàn này, điều làm tôi xúc động hơn cả là chuyện thuộc quy luật ngàn đời - Cô giáo tôi đã già, mái tóc Cô đã bạc trắng.

Đối với tôi, Cô vừa là cô giáo, vừa là người mẹ hiền. Thời gian có qua đi với bao sự đổi thay, tôi vẫn nhớ mãi tấm lòng của Cô giáo và sự quan tâm của Cô cả về vật chất lẫn tinh thần. Tôi làm sao quên được những món quà mà cô đã tặng cho tôi bằng cả một tấm lòng. Cô thường bảo “một nắm khi đói bằng một gói khi no”, vì vậy quà cô tặng có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Cô tặng tôi chiếc áo mới để mặc vào ngày lĩnh thưởng cuối năm học. Cô tặng tôi số tiền ngót bằng một tháng lương để tôi mua xe đạp đi học sư phạm. Quà của cô còn là lộ phí cho cô sinh viên mới ra trường, vừa nhận việc lại tiếp tục đi học đại học bằng hai ở một nơi rất xa, cách làng quê gần hai ngàn cây số. Còn quà của tôi là gì? Chỉ một lần tôi tặng cô chiếc áo ấm nhưng bị cô mắng rất nhiều và suýt chút thì không nhận, cô bảo đây là lần đầu tiên cũng như lần cuối cùng. Từ đó, tôi lại càng hiểu rõ việc tôi đã từng chứng kiến, ngày 20/11 học trò chỉ mang hoa hồng đến tặng cho Cô.

Sắp đến Ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày để những người làm thầy được tôn vinh, em rất nhớ về Cô - Cô giáo kính yêu của em. Trong bài viết này, em không viết tên Cô, cũng không viết tên em nhưng khi đọc được những dòng chữ này Cô và em sẽ tìm gặp được nhau. Xin Cô cho em nói lời cảm ơn công ơn dạy dỗ của Cô, cảm ơn những điều từ cuộc sống của Cô đã cho em bài học “làm người”./.

Ngày Đăng :

   Thạc sĩ Nguyễn Thị Yến
                                                                      Trưởng khoa Dân vận

 

Chữ “Tâm” viết theo tiếng Hán () có hình một trái tim (một vầng trăng khuyết, ba sao trên trời). Chữ này có nghĩa khá rộng vừa chỉ tinh thần, ý thức, lại vừa chỉ tình cảm, lý trí, vừa là trái tim lại vừa là tên chung để chỉ những phẩm chất của trí óc. Ngoài ra, nó còn chỉ những cái ở giữa (trung gian, trung tâm). Tâm còn được hiểu theo nhiều giác độ tốt đẹp như:

“Tâm” là nơi cư trú của hoạt động tinh thần con người. Nó mang ý nghĩa là lương tâm đạo đức, tấm lòng, lòng bao dung, nhân ái độ lượng, vị tha, thương người như thể thương thân.
“Tâm” là biểu hiện sự cảm thông, biết chia sẻ với người khác lúc hoạn nạn khó khăn.
“Tâm” là tâm tính, tâm can, tâm tư, tâm khảm, là toàn tâm toàn ý cho công việc, cho sự nghiệp, lý tưởng của mình.
“Tâm” chính là lòng, bụng, dạ,…là phần bên trong của cơ thể con người, là cái quan trọng nhất, dễ nhận biết được.

 “Tâm” là tâm lực, là sự tập trung cao độ của sức lực con người. Ở mỗi người, ai cũng tồn tại cái “Tâm” trong mình. Vì thế, trong cư xử giữa con người với con người, điều quan trọng là tấm lòng, là thành “Tâm”, thực bụng sống hết lòng vì nhau.

“Tâm” được xem là một trong những phạm trù quan trọng, “Tâm” còn là toàn bộ thế giới bên trong, cái chủ quan, tâm hồn, tình cảm, ý đồ, tinh thần, tâm lý. “Tâm” không chỉ nghĩ về lý mà còn là tình. Chính vì vậy, ngoài những chữ như: Nhẫn, đức, phúc, tài, lộc…được nhiều người treo trong nhà thì chữ “Tâm” cũng được rất nhiều gia đình lựa chọn, bởi chữ “Tâm” vừa mang ý nghĩa cao trọng, vừa mang tính thẩm mỹ cao, đồng thời bao hàm ý nghĩa của các chữ tài, đức, nhẫn.

Một tác giả đã bàn về chữ “Tâm” như sau:

1- Tâm mà lệch lạc, thì cuộc sống nghiêng ngả đảo điên.
2- Tâm mà gian dối, thì cuộc sống bất an.
3- Tâm mà ghen ghét, thì cuộc sống hận thù.
4- Tâm mà đố kỵ, thì cuộc sống mất vui.
5- Tâm mà tham lam, thì cuộc sống dối trá.

Với người thầy, chữ “Tâm” càng được giữ gìn, trui mài, đề cao hơn hết. Vì người thầy là hình ảnh của sự liêm khiết trong sạch, là hình ảnh của cây tùng, cây bách luôn đứng thẳng mặc cho phong ba, bão táp. Để có chữ “Tâm”, mỗi người thầy phải trải qua một quá trình rèn luyện kiên định và thường xuyên, phải biết tôn trọng lẽ phải, tránh xa điều trái. Chữ “Tâm” của người thầy không chỉ đơn thuần là tâm huyết với nghề, thương yêu giúp đỡ người học mà còn bao hàm cả phương pháp dạy học, dạy làm người. Do vậy, đối với người thầy luôn phải có cái tâm trong, gương sáng để người học soi vào đó mà học hỏi những điều hay, lẽ phải. Người thầy phải có lòng vị tha, biết thương yêu và quý trọng người học của mình, có lối sống lành mạnh để làm gương cho người học noi theo,…điều này thể hiện rõ nét khi thầy - trò tiếp cận nhau trong nhà trường, trên lớp học, ngoài xã hội,…và đặc biệt trong những giờ lên lớp, đó là thời gian thầy - trò gặp gỡ nhau nhiều nhất, trao đổi thông tin cho nhau. Chữ Tâm của người thầy còn thể hiện trên các phương diện:

Thứ nhất, tài năng, trình độ hiểu biết, năng lực chuyên môn của người thầy. Đây là điều căn bản cần có ở một người thầy khi đứng trên bục giảng, bởi lẽ người thầy cần phải có đủ lượng tri thức để truyền tải cho người học một cách đúng nhất, tốt nhất, đầy đủ, hấp dẫn. Trong quá trình giảng dạy, người thầy biết hướng cho người học có cách nhìn đúng, biết vận dụng kiến thức vào thực hiễn hoạt động, biết giá trị của một buổi học sẽ mang đến cho mình lợi ích thế nào…

Thứ hai, vai trò của người thầy khi đứng trên bục giảng ngoài giảng dạy còn thể hiện ở quan hệ đối xử,  khi giải quyết những vấn đề vướng mắc xảy ra…phải thật sự công tâm, công bằng và nghiêm minh, có như thế, trong suy nghĩ của người học sẽ có sự tôn trọng, có lòng tin đối với thầy của mình, nó sẽ rèn cho người học về sự nghiêm minh, nghiêm túc trong học tập, hạn chế sự lơ là, chểnh mảng và người học sẽ có tâm thế tốt hơn trong mỗi buổi học.

Thứ ba, người thầy không chỉ truyền thụ cho người học những kiến thức chuyên môn mà cần giúp cho họ thấy được qua mỗi bài giảng trên lớp, người học sẽ được giáo dục về ý thức đạo đức, niềm tin lý tưởng trong sáng, biết học để mai này phục vụ cho quê hương, cho đất nước, biết cống hiến, hy sinh, sống vì mọi người, giữ cái tâm trong sáng. Đây cũng là những yêu cầu cần có của người học trong thời gian học tập và sau khi ra trường.

Thứ tư, với môi trường chính trị, người giảng viên phải xác định rõ chữ “Tâm” còn được khẳng định thông qua việc xác định đúng mục tiêu lý tưởng, niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự thắng lợi tất yếu của cách mạng Việt Nam. Từ đó, trang bị cho mỗi người học thế giới quan duy vật, phương pháp luận biện chứng, giúp cho người học xác định đúng mục tiêu, lý tưởng, niềm tin cách mạng và tuyệt đối kiên trì với mục tiêu, lý tưởng cộng sản, sẵn sàng cống hiến suốt đời cho lý tưởng cộng sản.

Thứ năm, chữ “Tâm” của người giảng viên ở Trường Chính trị cần phải có đó là bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi yêu cầu của thực tiễn cách mạng đặt ra. Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng về việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Từ đó, truyền tải đến người học lập trường, quan điểm, tư tưởng kiên định, vững vàng, biết khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thách thức mà thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng và nhân dân đã giao cho.

Có thể nói, nghề dạy học tự bản thân nó đã đề ra một yêu cầu cho mỗi người thầy sự nghiêm ngặt với chính mình trong việc nâng cao kiến thức, trau dồi công tác chuyên môn, rèn đức, giữ gìn phẩm chất tốt đẹp, phấn đấu và cống hiến vì nhiệm vụ cao cả mà xã hội đã tôn vinh, người học trân trọng. Song để có được chữ “Tâm” là điều vô cùng cao quý khi người thầy có được nó nhưng chữ “Tâm” đó phải luôn được trân trọng giữ gìn, được rèn giũa hàng ngày để nó thực sự là chữ “Tâm” trong sáng đó là điều cốt yếu của người Thầy cần làm trong giai đoạn hiện nay./.

Ngày Đăng :

    Võ Kim Thanh
                                                                            Phòng Đào tạo

 

Mỗi lời nói hay, mỗi việc làm tốt, mỗi hoạt động bổ ích là thiết thực học tập và làm theo lời Bác”. Thật vậy, sau 5 năm Trường Chính trị Bến Tre thực hiện “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị mà trọng tâm là đẩy mạnh việc làm theo Bác, điều đọng lại trong tim của mỗi cán bộ đảng viên, đặc biệt là đoàn viên thanh niên trường đó là tình yêu thương, kính trọng và quyết tâm làm theo lời Bác dạy.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành phương châm hành động của toàn dân trong cả nước, mỗi người đều tự hoàn thiện bản thân, phấn đấu trở thành một công dân tốt, giúp ích cho xã hội và cho đất nước. Đối với thanh niên, học tập và làm theo lời Bác, trước hết là cần phải học tập để trao dồi tri thức, nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân và xây dựng phẩm chất, đạo đức cách mạng tốt đẹp, góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của thanh niên đối với sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới của đất nước. Qua đó, thanh niên có nguyện vọng phấn đấu, rèn luyện để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hình thành lớp thanh niên sống có hoài bão lớn, lý tưởng đẹp và ước mơ trong sáng. Có như vậy, thanh niên mới xứng đáng là lớp thế hệ trẻ kế thừa, tiếp tục xây dựng và phát triển sự nghiệp của nước nhà, thực hiện được lời dạy của Bác “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cho cái tương lai đó”.

Thế nhưng, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập thế giới, một phần không nhỏ thanh niên đã chạy theo lối sống thực dụng của nền kinh tế thị trường, sống buông thả, đạo đức ngày càng tha hoá và không ít thanh niên đã rơi vào cạm bẫy của xã hội, tự huỷ bản thân mình, rồi trở thành nạn nhân của tệ nạn xã hội…Thực tế hiện nay, trên khắp cả nước nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng, số lượng thanh niên thất nghiệp còn nhiều bắt nguồn từ những nguyên nhân khác nhau: Điều kiện hoàn cảnh chưa tìm được công việc phù hợp, nhưng một số khác thanh niên là do lười biếng, ỷ lại vào gia đình, vào xã hội, họ không ý thức được rằng “Lao động là vinh quang”. Điều đó có thể nhận thấy khi nhìn vào các quán cà phê, quán nhậu, quán intrenet…lúc nào cũng đầy người và họ có thể ngồi hàng tiếng đồng hồ, đáng buồn hơn, đa số thành phần là thanh niên, thậm chí còn có cả thiếu niên…Đấy là con đường lôi cuốn các thanh thiếu niên dễ dàng bị sa ngã, phạm pháp để rồi rơi vào vòng luân lý khi tuổi đời còn quá non trẻ.

Đối với đoàn viên thanh niên Trường Chính trị Bến Tre, được sự quan tâm, hướng dẫn của Đảng ủy nhà trường, Chi đoàn Trường Chính trị Bến Tre đã thực hiện tốt việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tạo sự chuyển biến tích cực từ đạo đức, nhân cách đến hành động của mỗi đoàn viên thanh niên trong Chi đoàn. Tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ học viên, thái độ ứng xử, lề lối tác phong làm việc của đoàn viên thanh niên được chấn chỉnh và nâng lên rõ rệt…Đặc biệt, những năm gần đây, đoàn viên thanh niên cơ quan còn tích cực tham gia phong trào “Thanh niên tình nguyện” với nhiều hoạt động như: Tham gia lao động giúp đỡ các gia đình chính sách, bảo vệ môi trường, thăm tặng quà cho các em học sinh nghèo, các gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn; tăng cường lực lượng xung kích đến các địa bàn trọng điểm tham gia giúp đỡ nhân dân vùng bị bão lụt khắc phục hậu quả thiên tai. Từ đó đã góp phần làm sáng đẹp thêm hình ảnh của thanh niên xung kích, thanh niên sẵn sàng vì dân phục vụ.

Điều đáng ghi nhận việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của thanh niên Trường Chính trị Bến Tre không chỉ mỗi cán bộ đảng viên, từng đoàn viên thanh niên đã thấm nhuần và nhận thức rõ về tư tưởng và hành động để rèn luyện phẩm chất đạo đức và lối sống, tác phong làm việc, thái độ và tinh thần trách nhiệm ngày càng được nâng cao, nội bộ ngày càng đoàn kết, chi bộ và các đoàn thể đều được khen thưởng. “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã thức tỉnh trái tim từng đoàn viên của Chi đoàn. Mỗi đoàn viên đều nhận thức được việc học tập và làm theo lời Bác là điều kiện để rèn luyện đạo đức và hoàn thiện nhân cách của mình. Cụ thể bằng những việc làm thiết thực như sau:

Năm 2010 đến nay, Đoàn ủy Trường Chính trị tiếp tục triển khai cuộc vận động “Tuổi trẻ Bến Tre học tập và làm theo lời Bác” đến từng Chi đoàn và đoàn viên thông qua việc đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức, lối sống gắn với việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó có bám vào từng chủ đề cụ thể hàng năm đến toàn thể đoàn viên thanh niên và học viên của nhà trường, xem đây là công việc trọng tâm và thường xuyên mang tính chất lâu dài. Qua việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, 100% đoàn viên đều có bản đăng ký rèn luyện. Nhờ đó, trong những năm qua đoàn viên thanh niên Trường Chính trị luôn có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng.

Thấm nhuần việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trong những năm vừa qua, đoàn viên thanh niên trường còn tích cực tham gia phong trào “Thanh niên tình nguyện” với nhiều hoạt động như: Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 hằng năm Ban Chấp hành Đoàn Trường Chính trị đều cử lực lượng tham gia công trình “Những đóa hoa trên mộ liệt sĩ” và “Thấp nến tri ân”, tổ chức đền ơn đáp nghĩa thông qua những chuyến về nguồn tặng quà đến các gia đình chính sách ở 3 xã Định Trung huyện Bình Đại, An Nhơn và Thạnh Hải huyện Thạnh Phú.

Ngoài ra, Chi đoàn còn tham gia tất cả các hoạt động do Tỉnh Đoàn tổ chức như: Tham dự lễ ra quân Tháng Thanh niên, Mùa hè xanh, kỳ nghỉ hồng, hoạt động giao lưu tại xã Tân Phú, huyện Châu Thành; cử lực lượng tham dự lễ míttinh kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đủ thành phần và số lượng theo yêu cầu của Đoàn Khối các cơ quan tỉnh; tham gia Hội trại truyền thống do Tỉnh Đoàn tổ chức; tham gia hội thi tuyên truyền ca khúc cách mạng do chi Đoàn Báo Đồng khởi tổ chức nhân dịp kỷ niệm ngày Miền nam hoàn toàn giải phóng. Tham gia thi hát Quốc ca, Lãnh tụ ca. Thông qua việc phát động phong trào hiến máu nhân đạo Đoàn truờng cũng đã cử đoàn viên tham gia tình nguyện. Tiếp tục định hướng nhận thức, tuyên truyền phổ biến các bài viết về biển đảo của Việt Nam để đoàn viên tìm hiểu nhằm thể hiện tình cảm và trách nhiệm của mình đối vùng lãnh thổ, lãnh hải thiên liêng của Tổ quốc. Phát động hưởng ứng cuộc thi tìm hiểu biển đảo Việt Nam bằng hình thức chiếu phim tư liệu, nghe Hải quân báo cáo về tình hình biển đảo, phát động phong trào nhắn tin “Góp đá xây dựng Trường Sa” với 100% đoàn viên tham gia.

Trên đây là kết quả phấn đấu mà đoàn viên thanh niên Trường Chính trị Bến Tre đạt được thông qua việc học tập và làm theo lời Bác.

 Trong thời gian tới, để nâng cao hơn những thành tích đạt được Chi đoàn Trường Chính trị Bến Tre cần tiếp tục phấn đấu học tập và làm theo lời Bác, mỗi đoàn viên thanh niên phải không ngừng học tập, tự học để tích lũy và nâng cao tri thức của bản thân. Đẩy mạnh phong trào thi đua học tập trong đoàn viên thanh niên trường, đồng thời là lực lượng đi đầu trong xây dựng xã hội học tập với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Phát động các phong trào thi đua sáng tạo trong thanh niên để phát huy trí tuệ, lòng say mê và khả năng sáng tạo của tuổi trẻ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào trong công tác chuyên môn của mình./.

Ngày Đăng :

Thạc sĩ Nguyễn Thị Nga
                                                                         Khoa Xây dựng Đảng

 

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là một công việc khó khăn, nghiên cứu phương pháp Hồ Chí Minh còn khó khăn và phức tạp hơn, song đó là sự khó khăn, phức tạp tinh tế, bởi lẽ phương pháp Hồ Chí Minh là phương pháp ở tầm tư tưởng, ở triết lý nhân sinh và hành động, ở sự gắn liền khoa học, cách mạng và nhân văn trong con người và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh là một lĩnh vực chuyên biệt, là một bộ phận trong hệ thống phương pháp Hồ Chí Minh. Phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh được biểu hiện thông qua một số đặc trưng cơ bản: Tính khoa học và cách mạng, tính đại chúng và nghệ thuật, sự kết hợp giữa lời nói và hành động. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đặc trưng về tính khoa học và cách mạng trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh:

Một là, tính khoa học trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh

Tính khoa học trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh là cụm từ dùng để chỉ tính hợp quy luật của phương pháp tuyên truyền này, thể hiện ở chỗ Người biết lựa chọn, kế thừa và kết hợp tính ưu việt của các phương pháp tuyên truyền khác nhau, nhất là phương pháp tuyên truyền của học thuyết Mác-Lênin, đồng thời vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam.

Tính khoa học trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, tính khoa học xuất phát từ tính chất khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và quan điểm, đường lối của Đảng.

Xuất phát từ nội dung tuyên truyền mang bản chất khoa học - hoạt động truyền bá, phát triển học thuyết Mác-Lênin, truyền bá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng nên phương pháp tuyên truyền cũng mang tính khoa học.

Khi thực hiện quá trình tuyên truyền, Hồ Chí Minh cho rằng phải thường xuyên coi trọng vấn đề tổng kết và chú ý rút kinh nghiệm từng việc, từng đợt để thấy rõ cái hay, cái dở, cái đúng, cái sai nhằm tiếp tục bổ sung hoàn thiện nội dung, đồng thời làm cho phương pháp tuyên truyền ngày càng phù hợp hơn với thực tế.

Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn lựa chọn phương pháp tuyên truyền phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam.

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã trở thành vấn đề mang tính nguyên tắc trong quan niệm của Hồ Chí Minh, Người đã khẳng định: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông(HCM Toàn tập, t8, tr.496, H, 2002.). Đối với phương pháp tuyên truyền, Người chỉ rõ phải luôn bám sát thực tiễn, phân tích thực tiễn bằng sự am hiểu sâu sắc về lý luận, làm chủ lý luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn ở trình độ cao.

Khi truyền bá học thuyết Mác-Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, Hồ Chí Minh đề cập vấn đề lý luận và trình bày chúng không gò bó, phụ thuộc vào câu chữ, khái niệm trình bày hết sức thực tế, linh hoạt, mềm dẻo, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với trình độ của nhân dân. Bác đã chú trọng sử dụng cách tuyên truyền có hình tượng, đặc biệt là dùng phép so sánh, trên cơ sở hai sự vật có những nét tương đồng nhất định nào đó đem chúng đối chiếu với nhau, để gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người tiếp nhận. Điều đáng lưu ý, những hình ảnh mà Hồ Chí Minh đem ra so sánh bao giờ cũng gần gũi, thân quen, gắn liền với đời sống hằng ngày của nhân dân. Chẳng hạn, khi đề cập bản chất ăn bám, bóc lột của bọn đế quốc với người lao động ở chính quốc và thuộc địa, Hồ Chí Minh đã dùng hình ảnh con đỉa hai vòi; khi luận giải về vấn đề dân chủ chuyên chính và mối quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính, Bác dùng hình ảnh cái hòm đựng của cải thì phải có cái khóa; khi kêu gọi đoàn kết để chống giặc, Bác dùng hình ảnh hòn đá, con cáo và tổ ong; khi giải thích nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, Bác so sánh lý luận như cái tên (hoặc viên đạn), thực hành như cái đích để bắn, có tên không bắn hoặc bắn lung tung thì cũng như không có tên…

Thông qua những hình ảnh so sánh đó, vấn đề trừu tượng trở nên cụ thể, hoặc vấn đề cụ thể càng trở nên cụ thể hơn, vấn đề khó hiểu trở thành dễ hiểu. Cách tuyên truyền này phù hợp với đặc điểm quá trình nhận thức của đối tượng mà vẫn không xa rời yêu cầu khoa học, đồng thời đây chính là sự kế thừa sáng tạo cách nói ví von của người Việt Nam.

 Thứ ba, Hồ Chí Minh sử dụng người thật, việc thật để tuyên truyền.

Theo Hồ Chí Minh, tuyên truyền bằng sự thật là phải nói rõ sự thật, nói đúng sự thật, không được tô hồng cũng không được bôi đen và phải tuyên truyền bằng người thật, việc thật. Song, cũng cần hiểu đúng về “sự thật”, đặt nó trong mối quan hệ với lợi ích giai cấp, thông tin về sự thật đến mức nào là vừa, sự thật đó có lợi hay có hại cho cách mạng. Trong tuyên truyền có khen, có chê, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu, biểu dương phải đúng và có chừng mực, khi chê hay phê phán không được thiên lệch, không để kẻ thù lợi dụng sơ hở của ta để kích động, lừa gạt, lôi kéo quần chúng nhân dân nói xấu Đảng.

Để tuyên truyền đúng sự thật, Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ tuyên truyền ngoài việc tích cực học tập phải nghiên cứu thực tế, bám sát phong trào, bám sát cơ sở, bám sát đối tượng. Rõ ràng đây chính là quá trình đi vào thực tiễn, tích lũy tri thức làm giàu vốn hiểu biết của mình để lắng nghe, nắm tình hình, thu thập tư liệu, tài liệu cho chắc chắn. Người dạy: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết và “Không hiểu rõ, biết rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”. (HCM Toàn tập, t5, tr.302-306, H, 2002).

Hai là, tính cách mạng trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh

Tính cách mạng trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh xuất phát từ bản chất giai cấp của học thuyết Mác-Lênin. Trong xã hội có giai cấp, hoạt động tuyên truyền bao giờ cũng mang tính giai cấp. Tính đảng là biểu hiện cao nhất của tính giai cấp, là tính giai cấp ở trình độ cách mạng triệt để nhất, sâu sắc nhất, tự giác nhất.

Tính cách mạng trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh chỉ sự biến đổi theo chiều hướng tiến bộ, phương pháp tuyên truyền trở thành vũ khí phê phán, đấu tranh và tăng cường bồi dưỡng cho nhân dân thế giới quan mácxít giúp nhận thức, đánh giá đúng các sự kiện, hiện tượng thúc đẩy hành động cách mạng tích cực, tự giác, triệt để vì lợi ích của giai cấp và dân tộc.

Tính cách mạng trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh thể hiện ở phương pháp đấu tranh bảo vệ lợi ích của dân tộc và của những người bị áp bức, bóc lột dưới chế độ thực dân, đế quốc, đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong đấu tranh, Người chú ý đến từng trọng điểm, khai thác trên nhiều bình diện, tiến hành đã kích, phê phán, đấu tranh với những chứng cứ cụ thể, lý lẽ đanh thép hết sức thuyết phục để kết tội và tấn công trực tiếp vào kẻ thù. Đồng thời, Hồ Chí Minh đã làm cho tiếng nói của mình trở thành tiếng nói của những người cùng khổ, tiếng nói đau thương, phẫn nộ, tiếng nói của công lý để bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc, vạch trần bản chất của chế độ thực dân, đế quốc.

Ngoài ra, tính cách mạng còn biểu hiện ở phương pháp thúc đẩy nhân dân đấu tranh xóa bỏ lối sống cũ đã lỗi thời, lạc hậu, chống chủ nghĩa cá nhân nhằm hình thành ý thức xã hội chủ nghĩa và xây dựng một xã hội mới tốt đẹp. Hồ Chí Minh đã tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng đời sống mới. Lời chỉ dẫn của Người không chỉ là thao tác gạn đục khơi trong, bảo tồn, nâng niu những giá trị của nếp sống cũ mà còn là quá trình tổng hợp những yếu tố tích cực, tiến bộ, hợp lý và thống nhất giữa cái cũ và cái mới theo hướng phát triển.

Nhìn chung, chúng ta có thể khẳng định rằng, tính khoa học và tính cách mạng trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh có mối liên hệ khắng khít và tác động biện chứng lẫn nhau, tính khoa học càng cao thì tính cách mạng càng sâu sắc, càng triệt để và ngược lại.  

Phương pháp Hồ Chí Minh nói chung, phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh nói riêng càng đọc càng thấm thía. Khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rằng nhiều luận điểm của Người vừa là sự thể hiện quan điểm, tư tưởng vừa là ngụ ý chỉ dẫn về phương pháp. Phương pháp Hồ Chí Minh vừa ở bên trong tư tưởng để xác lập cơ sở lý thuyết của bản thân nó lại vừa vượt ra khỏi tư tưởng để biến thành hành động thực tiễn. Không dừng lại ở tư tưởng, qua các tác phẩm, văn phẩm của Người, để nhận thức một cách thấu đáo phương pháp Hồ Chí Minh nói chung và phương pháp tuyên truyền nói riêng, chúng ta cần tìm hiểu trong cuộc đời, con người, sự nghiệp Hồ Chí Minh - một nhà tuyên truyền kiệt xuất.

Nghiên cứu phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh thôi thúc chúng ta hành động. Học tập phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh là học những phương pháp quý báu về nhận thức, tư duy, hành động, học tính khoa học và cách mạng, vận dụng một cách linh hoạt vào hoạt động giảng dạy ở nhà trường, phù hợp với đối tượng học viên. Vì vậy, việc nghiên cứu phương pháp tuyên truyền nói chung và phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh nói riêng càng trở nên có ý nghĩa đặc biệt.

Ngoài tư cách là giảng viên giảng dạy lý luận chính trị, người giảng viên Trường Chính trị còn là một nhà tuyên truyền cách mạng, trang bị cho học viên, đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở, các ban ngành, những kiến thức về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật và nhà nước, xây dựng thế giới quan, phương pháp luận mácxít, định hướng để học viên vận dụng vào thực tiễn công tác ở đơn vị. Nhất là trong giai đoạn nâng cao chất lượng giảng dạy, đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, ứng dụng thiết bị đèn chiếu, phương pháp giảng dạy tích cực, giảng viên đã trở thành một nhà tuyên truyền thực thụ với sự phối hợp nhuần nhuyễn các nhóm phương pháp dùng lời nói trực tiếp, phương pháp trực quan, sử dụng các phương tiện kỹ thuật làm khâu trung gian góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường và hoàn thành tốt nhiệm vụ của cấp trên giao./.

CHUYÊN ĐỀ

hcm

Thư viện ảnh