CN. Huỳnh Nguyễn Đăng Khoa
Giảng viên phòng QLĐT và NCKH
Các Mác (1818-1883) là nhà tư tưởng thiên tài, nhà cách mạng vĩ đại, lãnh tụ kiệt xuất của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng như các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Người đã cùng Ph.Ăngghen xây dựng nên hệ thống lý luận cách mạng và khoa học, là kim chỉ nam, vũ khí tinh thần sắc bén, soi sáng sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóc lột.
1. Về tiểu sử của C.Mác
Các Mác sinh ngày 5/5/1818, trong một gia đình trung lưu ở thành phố Rhineland, Trier, Đức. Mùa thu 1835, C.Mác tốt nghiệp trung học, sau đó vào trường Đại học Tổng hợp Bonn để học luật. Hai tháng sau, theo lời khuyên của bố, Mác theo học ở trường Đại học Tổng hợp Berlin.
Ngày 15/4/1841, khi mới 23 tuổi, C.Mác nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrit và triết học tự nhiên của Êpiquơ tại trường Đại học Tổng hợp Jena. Sau đó, ông chuyển sang báo chí và bắt đầu cộng tác với tờ Nhật báo tỉnh Ranh. C.Mác nhanh chóng trở thành chủ bút, nhưng sau đó bị các nhà chức trách cho đóng cửa tờ báo vào tháng 5/1843 và chuyển về lại Paris.
Ngày 19/6/1843, Mác chính thức làm lễ thành hôn với Jenny bất chấp sự phản đối kịch liệt của gia đình Jenny. Năm 1844, C.Mác viết tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, thực chất là những tư tưởng hết sức quan trọng mà sau này C.Mác phát triển trong tác phẩm Bộ Tư bản.
Tháng 2/1845, cuốn sách Gia đình thần thánh của C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm chủ quan của phái Hêghen trẻ đồng thời nêu ra vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
C.Mác cùng Ph.Ăngghen viết tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), trong đó tiếp tục phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen và phái Hêghen trẻ đồng thời phê phán chủ nghĩa duy vật không thống nhất của Phoiơbach. Trong cuốn Sự bần cùng của triết học (1847), Mác đã chống lại triết học tiểu tư sản của Pruđông, trình bày những cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử và kinh tế chính trị học vô sản.
Năm 1848 được sự uỷ nhiệm của Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - một văn kiện mang tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa Mác và đảng vô sản. Tác phẩm đã soi sáng con đường đấu tranh để giai cấp công nhân toàn thế giới để thoát khỏi chế độ áp bức, nô lệ của chủ nghĩa tư bản, đưa cách mạng vô sản đến thắng lợi.
Tháng 6/1859, C.Mác đã viết tác phẩm Góp phần phê phán môn chính trị kinh tế học, tác phẩm viết về tiền tệ, trình bày những quan điểm Mácxít về giá trị và cơ sở của học thuyết kinh tế của C.Mác.
C.Mác là người tổ chức và là lãnh tụ của Quốc tế I, thành lập ngày 28/9/1864 ở London. C.Mác đã dốc tâm sức của mình để tập hợp, thống nhất, đoàn kết phong trào công nhân các nước.
Năm 1867, Bộ Tư bản (tập I) – tác phẩm chủ yếu của C.Mác ra đời. Tập II và III Mác không kịp hoàn tất, Ph.Ăngghen đảm nhiệm việc xuất bản hai tập này. Trong tác phẩm, C.Mác đã chỉ ra quy luật giá trị với tư cách là quy luật chung của nền sản xuất hàng hoá và Mác đã chỉ ra quy luật giá trị thặng dư. Trong kết luận, C.Mác nêu lên sự tất yếu phải thủ tiêu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thay thế nó bằng một hình thái tổ chức cao hơn của xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Trong cuốn Phê phán cương lĩnh Gôta (1875), C.Mác đã kịch liệt phê phán những sai lầm của chủ nghĩa cơ hội trong hàng ngũ những người lãnh đạo đảng xã hội dân chủ Đức, đề ra một vấn đề hết sức quan trọng về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản và hai giai đoạn của chủ nghĩa cộng sản, nghĩa là bản thân xã hội cộng sản phải phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn thấp - chủ nghĩa xã hội và giai đoạn cao - chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1876, sau khi Quốc tế I giải tán, Mác nêu lên ý kiến thành lập các đảng vô sản ở các nước là nhiệm vụ chính trị hàng đầu trong phong trào công nhân.
Ngày 14/3/1883, Các Mác qua đời ở London và được an táng tại nghĩa trang Highgate, phía Bắc London.
Như vậy, tên tuổi của C.Mác cùng với Ph.Ăngghen mãi mãi đi vào lịch sử nhân loại như những người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học có tác động to lớn đối với nhân loại tiến bộ.
2. Những phát kiến vĩ đại
Những cống hiến vĩ đại của C.Mác được thể hiện trên nhiều phương diện, kể cả lý luận và thực tiễn. Theo đánh giá của Ph.Ăngghen, Mác có các phát kiến vĩ đại nhất: Một là, học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội; Hai là, phát kiến về học thuyết giá trị thặng dư; Ba là, phát kiến về xây dựng học thuyết sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Phát kiến thứ nhất: học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội. Nếu như trước đây chưa ai phát hiện ra quy luật vận động khách quan của lịch sử thì chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác đã cung cấp một thế giới quan khoa học, một cách nhìn nhận biện chứng nhất, toàn diện nhất, khắc phục được những khuyết điểm trước đó để đánh giá về lịch sử nhân loại. Trên cơ sở đó, C.Mác đã phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử một cách toàn diện, vạch ra quy luật phát triển của xã hội loài người, được diễn ra theo năm hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Trong đó, mỗi hình thái kinh tế - xã hội khi phát triển đều có sự kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và gắn liền với quá trình ấy, phải tiến hành một cuộc cách mạng xã hội, để thực hiện cuộc chuyển biến căn bản từ xã hội cũ sang xã hội mới, V.I.Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học” [1] . Cho đến nay, lý thuyết về chủ nghĩa duy vật lịch sử ấy vẫn hoàn toàn khoa học, hoàn toàn đứng vững. Mỗi hình thái kinh tế xã hội khi phát triển đều có sự kế thừa và phát triển, từ đó đi đến kết luận về quy luật lịch sử, loài người tất yếu sẽ đi tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Phát kiến thứ hai: học thuyết giá trị thặng dư. Bằng cách vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, học thuyết kinh tế của C.Mác đã chỉ ra những quy luật kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa, quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của nó. Theo C.Mác, giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ở sản phẩm so với khoản tiền phải chi phí để tạo ra sản phẩm ấy… Phần giá trị dôi ra ấy là sức lao động của công nhân bị chủ tư bản bóc lột. Từ đó, C.Mác chỉ ra bản chất của giai cấp tư sản là bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân để làm giàu. Như vậy, C.Mác đã chỉ rõ mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu, mẫu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mà “sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu” [2]. Đánh giá về khám phá vĩ đại trên của C.Mác, V.I.Lênin khẳng định: “Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác” [3]. Trong thời đại ngày nay, các nhà khoa học ngày càng đi vào sâu để nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác.
Với hai phát kiến khoa học vĩ đại là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội khoa học, đó là học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng loài người đã ra đời. C.Mác đã chỉ ra, lực lượng xã hội có thể tiêu diệt chế độ tư bản và sáng tạo xã hội mới, đó chính là giai cấp vô sản. C.Mác cho rằng, giai cấp vô sản, phải tự mình vùng lên đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa. Đảng Cộng sản, chính đảng của giai cấp công nhân, có lý luận tiền phong soi đường, là lực lượng lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm cách mạng để phá bỏ chế độ áp bức, bóc lột cũ, xây dựng chế độ mới - chế độ cộng sản chủ nghĩa. Người khẳng định: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [4].
Với các phát kiến trên, C.Mác đã trở thành một nhà khoa học, một nhà cách mạng lỗi lạc trong sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản hiện đại, V.I.Lênin khẳng định: “Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản” [5]. Như vậy, hệ thống lý luận hoàn chỉnh, thống nhất bao gồm ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học gắn kết chặt chẽ với nhau. Đó là vũ khí lý luận sắc bén mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới đã được trang bị trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, hướng tới một tương lai tốt đẹp.
3. Vận dụng trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam hiện nay
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác đã chấm dứt thời kỳ sống trong đêm tối của hàng triệu triệu nhân dân lao động sống dưới ách áp bức, bóc lột đang tìm đường giải phóng cho mình. Học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin kế thừa, bổ sung và phát triển trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, kể từ đó, chủ nghĩa Mác đã phát triển thành chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong suốt thế kỷ XX đầy biến động và những năm đầu của thế kỷ XXI, chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình, là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Là đỉnh cao của trí tuệ loài người, chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành hệ tư tưởng của hàng triệu người trên trái đất, chỉ đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh giành lấy hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, trải qua hơn 95 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của mình và đã đạt được nhiều thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử và mang tầm vóc thời đại. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn luôn trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, với lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc. Nhờ vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước, cách mạng Việt Nam đã khắc phục được cuộc khủng hoảng về đường lối kéo dài suốt nhiều thập kỷ, đánh đổ thực dân, phong kiến, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc và đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội.
Kể từ khi Đảng ta thành lập (3/2/1930), trong Kỷ nguyên đầu tiên của Dân tộc (1930 - 1975), Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu là phải xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, trở thành một quốc gia độc lập, tiến lên xây dựng chế độ xã hội mới. Trong Kỷ nguyên thống nhất, đổi mới, phát triển (1975 - 2025), sau gần 50 năm đất nước thống nhất, 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt mục tiêu hàng đầu là thoát ra khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân, xác lập vị thế quốc tế xứng đáng, chủ động hội nhập quốc tế. Hiện nay, trong Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, kỷ nguyên thịnh vượng dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, cho hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu...” [6]
Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phải dựa trên cơ sở khoa học, nguyên tắc bất di bất dịch, đó là phải luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đúng như Lênin khẳng định: Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là cái gì đã xong xuôi hoàn toàn. Mặc dù là hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, song không phải là “chìa khóa vạn năng” áp dụng cho mọi mô hình, quốc gia, dân tộc vốn có hoàn cảnh lịch sử cụ thể không giống nhau. Chính vì vậy, một trong những bài học lịch sử, thực tiễn phong phú mà Đảng ta rút ra là phải luôn kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp điều kiện thực tiễn nước ta, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động.
Tư duy lý luận về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc chính là sự kế thừa, phát triển nhận thức, vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong giai đoạn phát triển mới của đất nước và của dân tộc Việt Nam. Hành trang bước vào kỷ nguyên mới, vươn mình của dân tộc như Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định là: Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, lấy nguồn lực nội sinh, nguồn lực con người là nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững, là đột phá để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Nhân kỷ niệm 207 năm Ngày sinh Các Mác (5/5/1818 - 5/5/2023), chúng ta tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với những cống hiến vĩ đại của Người cho nhân loại, trong đó có giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đồng thời, tuyên truyền, phổ biến đến cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ về cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần đẩy mạnh học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn công tác, học tập, khơi dậy niềm tin, khát vọng cống hiến, nỗ lực phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu của kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
Chú thích
[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.23, tr.53.
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, t.4, tr.613.
[3] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.23, tr.55.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, t.4, tr.628.
[5] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.23, tr.50.
[6] Tổng Bí thư Tô Lâm trao đổi chuyên đề “Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 25-11-2024.

