Nguyễn Thị Mai Trâm
Khoa Lý luận cơ sở
Quan điểm “thi đua là đoàn kết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra nguồn động lực lớn, sức mạnh lớn cho dân tộc ngay trong lòng mọi người dân Việt Nam. Thực tế đã chứng minh, nhờ đoàn kết một lòng, qua những năm tháng đấu tranh cách mạng tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đã đoàn kết nhất trí, vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, là đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; là nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiều biện pháp để khơi dậy, củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, trong đó phát động, tổ chức các phong trào thi đua yêu nước một cách sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân là một trong những biện pháp quan trọng, hữu hiệu. Có thể nói phong trào thi đua yêu nước là mẫu số chung để tập hợp mọi người dân Việt Nam không phân biệt thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo… để nhằm vào thực hiện thắng lợi mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để đạt được kết quả cuối cùng của thi đua, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những nguyên tắc cần phải tuân theo khi chúng ta thực hiện phong trào thi đua: Đoàn kết, đoàn kết làng xóm, đoàn kết đất nước, đoàn kết người với người để tạo nên sức mạnh tổng hợp đảm bảo thắng lợi cho thi đua. Cần quy tụ mọi tầng lớp nhân dân thành một khối đại đoàn kết để phát động mọi người thi đua yêu nước, ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong Bài nói tại Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc, năm 1952, Người nói “thi đua là đoàn kết”:
Trong phong trào thi đua chúng ta thấy đủ các dân tộc : Kinh, Thổ, Mán, Mường, v.v., đủ các tín ngưỡng, lương có, giáo có, đủ các tầng lớp binh, công, nông, sĩ đủ các hạng người già, trẻ, gái, trai tất cả đều nhằm vào một mục đích chung: Tăng gia sản xuất và diệt giặc lập công. Trước kia anh em trí thức thì xa lao động chân tay. Công nông binh thì ai chỉ lo việc ấy. Giữa các hạng người, các tầng lớp, cảm tình chưa được thân mật. Nay phong trào thi đua đã làm phát triển tinh thần đoàn kết giữa tất cả các tầng lớp nhân dân…Thế là thi đua tăng cường đoàn kết, mà đoàn kết đẩy mạnh thi đua. Đoàn kết ấy là đoàn kết thật sự và rất chặt chẽ. [1]
Sự đoàn kết đó xuất phát từ lòng yêu nước, nghĩa đồng bào, dựa trên sự kết hợp hài hòa các lợi ích, thấm đượm lòng nhân ái mang bản chất nhân văn cao đẹp. Bên cạnh đó, thi đua yêu nước không những tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc mà còn có ý nghĩa trong việc góp phần củng cố và tăng cường đoàn kết quốc tế, Người chỉ rõ “Thi đua chẳng những bồi dưỡng tinh thần đoàn kết và tinh thần yêu nước của dân tộc ta, mà lại làm cho nhân dân ta đoàn kết với nhân dân lao động thế giới” [2]. Và nhờ tăng cường tình đoàn kết quốc tế mà chúng ta có được sức mạnh tổng hợp để đánh thắng những kẻ thù hung bạo, Hồ Chí Minh khẳng định: “Quân và dân ta thi đua để đẩy mạnh kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Ta tiêu diệt lực lượng đế quốc Pháp và Mỹ, tức là ta thiết thực góp phần vào công cuộc giữ gìn hòa bình và dân chủ thế giới. Đó chính là tinh thần quốc tế của thi đua.” [3]
Quan điểm “thi đua là đoàn kết” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua các thời kỳ cách mạng..Trong hai cuộc kháng chiến anh dũng chống ngoại xâm, độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của mọi người dân Việt Nam. Giương cao ngọn cờ đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng, phát động phong trào thi đua yêu nước, động viên tối đa sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân vào phong trào thi đua phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khi đất nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, phong trào thi đua yêu nước phát triển mạnh mẽ, nhân dân hăng hái thi đua tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống, cung cấp đầy đủ cho kháng chiến; quân đội thi đua giết giặc lập công để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, xây dựng xã hội mới. Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đồng lòng đoàn kết thi đua nêu cao khẩu hiệu: “Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ”; “Hậu phương thi đua với tiền tuyến”… Ở miền Nam, nhân dân từ thành thị đến nông thôn, từ miền ngược đến miền xuôi đều chung một bóng cờ, ra sức thi đua giết giặc lập công, ủng hộ cách mạng. 14 triệu đồng bào miền Nam là 14 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, đoàn kết như một, sát cánh đấu tranh hình thành thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp.
Phát huy vai trò hậu phương, cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến, kiến quốc, phong trào thi đua ở miền Bắc diễn ra sôi nổi, thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia. Lực lượng vũ trang nhân dân nêu cao khẩu hiệu “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”; công nhân phấn đấu đạt “3 mục tiêu”; nông dân với quyết tâm “Chắc tay súng, vững tay cày”; thanh niên có phong trào “Ba sẵn sàng”; phụ nữ có phong trào “Ba đảm đang”;… Dưới ngọn cờ thi Thi đua ái quốc, khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng được củng cố và phát triển. Quân và dân cả nước kết thành một khối, nêu cao tinh thần “Bắc - Nam một nhà”, “quân - dân một ý chí chiến đấu” quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà…Tất cả những phong trào thi đua đó không chỉ đưa cách mạng đến thắng lợi huy hoàng, mà còn là mực thước, kinh nghiệm cho Thi đua ái quốc, tinh thần thi đua là đoàn kết của chúng ta ngày nay. Vì vậy, vận dụng quan điểm “thi đua là đoàn kết” của Hồ Chí Minh là vấn đề cần thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “thi đua là đoàn kết”, trong mọi giai đoạn cách mạng Đảng ta luôn luôn khẳng định: Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng; là cội nguồn sức mạnh, là giá trị cốt lõi và động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong mọi thời kỳ. Bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên phát triển bứt phá, Đảng ta chủ trương phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh toàn dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; thực hiện thành công công cuộc đổi mới. Để củng cố, tăng cường, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân trong kỷ nguyên mới cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị gắn liền với xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ngang tầm với nhiệm vụ của tình hình.
Đại hội XIII nhấn mạnh : “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng…Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng”. Xây dựng Đảng phải luôn là một Đảng trí tuệ, đoàn kết, thống nhất, thực sự là hạt nhân xây dựng, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên để đảm nhiệm những nhiệm vụ phù hợp với tình hình mới.
Thứ hai, cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, Người cho rằng đại đoàn kết toàn dân tộc có vị trị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng. Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược; là một nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi cách mạng Việt Nam. Đại đoàn kết còn là mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của Đảng cách mạng. Người cho rằng: Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất; đoàn kết là sức mạnh vô địch; đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công. Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định chiến lược đại đoàn kết dân tộc là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là trong kỷ nguyên mới với nhiều thay đổi và thách thức toàn cầu, và khẳng định tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc, coi đại đoàn kết là vấn đề chiến lược, là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Trong kỷ nguyên mới, khi thế giới cũng như Việt Nam đang đối mặt với vô vàn biến động, chiến lược đại đoàn kết dân tộc đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng một đất nước mạnh mẽ, ổn định và phát triển bền vững. Đó là nền tảng để huy động tối đa mọi nguồn lực, khắc phục những thách thức và thúc đẩy sự thịnh vượng chung của xã hội.
Thứ ba, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao trách nhiệm công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước.
Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền. Giáo dục ý thức chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất trong Đảng và trong nhân dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội và đề cao ý thức cộng đồng trách nhiệm. Phát huy vai trò tích cực của các phương tiện thông tin đại chúng, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, coi trọng lực lượng tuyên truyền miệng nhất là ở các vùng dân tộc thiểu số và vùng đồng bào có đạo, vùng sâu, vùng xa.
Phát động sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt các cuộc vận động toàn dân đoàn kết phấn đấu vì sự phồn vinh, hạnh phúc của đất nước.
Thứ tư, kết hợp chặt chẽ đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế.
Việt Nam chủ động bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, công tác đối ngoại cần đóng vai trò tiên phong. Để đất nước có thể phát triển vững mạnh thì độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội và mở rộng quan hệ quốc tế, đoàn kết dân tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế là yêu cầu tất yếu khách quan, có quan hệ biện chứng tạo tiền đề cho nhau và đòi hỏi lẫn nhau.
Cần đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Giải quyết bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, phát triển, công bằng, bền vững, dân chủ và tiến bộ.
Bên cạnh đó, cần chủ động tham gia đấu tranh chung vì quyền con người ; kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu và hành động xuyên tạc, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hồng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.
Thứ năm, giải quyết hài hòa mối quan hệ.
Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức phải xuất phát từ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích trong xã hội ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Thứ sáu, đấu tranh kiên quyết, thường xuyên chống cấc quan điểm và hành động của các thế lực thù địch phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân trong kỷ nguyên mới.
Hiện nay, các thế lực thù địch phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân với nhiều hình thức tinh vi và phức tạp, họ đưa ra những luận điệu xuyên tạc thông tin, kích động mâu thuẫn, tìm cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy, để củng cố, tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên mới, cần đấu tranh phòng chống sự phá hoại của các thế lực thù địch một cách thường xuyên, liên tục, kiên quyết và có hiệu quả. Cuộc đấu tranh này phải là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi con người, mỗi tổ chức, mỗi lực lượng cần luôn nêu cao cảnh giác và có biện pháp đấu tranh ngăn chặn và loại bỏ những nhân tố tiêu cực ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc.
Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh “thi đua là đoàn kết” trong giảng dạy lý luận chính trị, đội ngũ giảng viên, đảng viên cần phải tiên phong, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện tốt phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”. Xây dựng tư tưởng tiến công, không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc. Đề cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, thực hiện văn hoá liêm chính, “nói đi đôi với làm”. Bên cạnh đó, thường xuyên chăm lo xây dựng và tăng cường đoàn kết nội bộ; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Hợp tác, hướng dẫn, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp; bảo vệ uy tín, danh dự của đồng chí, đồng nghiệp; không tranh giành công lao, không né tránh trách nhiệm, không lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi. Vận động gia đình, người thân đồng thuận trong thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Trong suốt chặng đường đã qua, thực hiện theo quan điểm “thi đua là đoàn kết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại của đất nước, để lại những dấu ấn sâu đậm, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước, truyền thống anh hùng của dân tộc. Hiện nay, thấm nhuần và thực hiện sáng tạo những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung và quan điểm “thi đua là đoàn kết” nói riêng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn luôn được củng cố, tăng cường và phát huy hết sức mạnh trong việc thực hiện mục tiêu mà Đảng ta đã xác định trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
Chú thích
[1] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 7, tr405.
[2] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 7, tr407.
[3] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 7, tr408.

