HỌC BÁC TỪ ĐIỀU GIẢN DỊ NHẤT SỐNG TRỌN BỔN PHẬN VỚI NHÂN DÂN
HỌC BÁC TỪ ĐIỀU GIẢN DỊ NHẤT SỐNG TRỌN BỔN PHẬN VỚI NHÂN DÂN
ThS. Trần Thị Thanh Thúy - Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Có những con người khi đi qua cuộc đời đã hóa thành ánh sáng dẫn đường cho cả một dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người như thế. Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh của Người không chỉ là dịp để tưởng nhớ một lãnh tụ thiên tài, mà còn là “thời khắc” để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi lại mình đã thật sự sống, làm việc và cống hiến xứng đáng với niềm tin của Nhân dân hay chưa? Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người “cả cuộc đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh vác việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục, cố gắng - Cũng vì mục đích đó”[1]. Lời nói ấy không phải là khẩu hiệu, mà là sự kết tinh của một cuộc đời trọn vẹn vì nước, vì dân. Từ những năm tháng bôn ba tìm đường cứu nước, chịu đựng tù đày, hiểm nguy, cho đến khi trở thành người đứng đầu Nhà nước, Người vẫn giữ nguyên một lẽ sống, phục vụ Nhân dân. Người nói: “Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt được mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn, ngoạn thủy, đọc sách làm vườn”[2].
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vì Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà phục vụ. Cả cuộc đời của Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Về phần Người thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với danh lợi. Đó chính là chuẩn mực cao nhất của đạo đức cách mạng, chuẩn mực mà mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay phải noi theo. Điều đáng nói là, tư tưởng ấy không dừng lại ở lý tưởng, mà trở thành nguyên tắc hành động xuyên suốt. Người không màng danh lợi, không tích lũy cho riêng mình, luôn giữ một đời sống thanh bạch, khiêm nhường. Ngay cả trong Di chúc thiêng liêng, Người vẫn căn dặn không tổ chức tang lễ linh đình để khỏi lãng phí thời gian, tiền bạc của Nhân dân. Một lãnh tụ, đến giây phút cuối cùng vẫn nghĩ cho dân – đó không chỉ là đạo đức, mà là tầm vóc. Trước khi vĩnh biệt chúng ta, trong Di chúc Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[3]. Có bao nhiêu người lãnh tụ trên thế giới này đến lúc qua đời vẫn không quên dặn dò “chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”[4]
Chính từ điểm xuất phát ấy, có thể thấy rõ gốc rễ của mọi yêu cầu xây dựng Đảng hôm nay chính là làm tròn bổn phận và trách nhiệm của người cán bộ “sống trọn bổn phận với Nhân dân”. Những chỉ thị, nghị quyết lớn của Đảng trong suốt thời gian qua, từ việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đến các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực chất đều quy tụ vào một điểm “làm sao để đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự vì dân”.
Nhưng nói “vì dân” thì dễ, làm “vì dân” mới khó. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo từ rất sớm, khi có quyền lực trong tay mà thiếu rèn luyện đạo đức, cán bộ rất dễ rơi vào cám dỗ. Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Người đã chỉ ra những căn bệnh nguy hiểm hủ hóa, quan liêu, độc đoán, dĩ công dinh tư. Người nói “Có người hủ hóa, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư. Thâm chí dùng pháp công mà báo thù tư”[5]. Trong bài “Chính phủ là công bộc của dân”, Người chỉ rõ “Các ủy ban nhân dân làng, phủ là hình thức Chính phủ địa phương phải chọn trong những người có tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dân làng tín nhiệm. Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác mà chui lọt vào các Ủy ban đó”[6]. Những biểu hiện ấy, dù ở thời điểm nào, cũng đều là mầm mống của sự suy thoái.
Thực tiễn hôm nay càng chứng minh tính thời sự sâu sắc của những lời cảnh báo đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không phải là ở những điều gì xa xôi mà nó bắt đầu từ những điều rất nhỏ như sự thờ ơ trước khó khăn của dân, thái độ quan liêu khi giải quyết công việc, sự né tránh trách nhiệm, hay tệ hơn là lợi dụng quyền lực để trục lợi cá nhân… Một khi cán bộ không còn “trọng dân, gần dân, hiểu dân”, thì khoảng cách giữa Đảng và Nhân dân sẽ dần bị nới rộng và đó chính là nguy cơ lớn nhất. Chính vì vậy, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ “sống trọn bổn phận với Nhân dân” không thể chỉ dừng ở tiêu chí hình thức, mà phải được đo bằng một thước đo căn cốt hơn đó là niềm tin của Nhân dân. Một cán bộ có thể giỏi chuyên môn, nhưng nếu xa dân thì không thể là cán bộ tốt. Một người có thể có chức vụ cao, nhưng nếu không được dân tín nhiệm thì uy tín ấy chỉ là hình thức.
“Sống trọn bổn phận với Nhân dân” không phải là khẩu hiệu, mà là hành động cụ thể lắng nghe người dân nói, hiểu cái người dân cần, giải quyết kịp thời những bức xúc từ cơ sở. “Sống trọn bổn phận với Nhân dân” không chỉ là thái độ, mà là nguyên tắc đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết trong mọi quyết định. Khi cán bộ thật sự “sống trọn bổn phận với Nhân dân”, thì tự khắc sẽ hình thành trách nhiệm, đạo đức và bản lĩnh.
Từ những giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kế thừa, cụ thể hóa thành các chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhằm biến những chuẩn mực đạo đức cách mạng thành nguyên tắc hành động và tiêu chí rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên trong thực tiễn hiện nay. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đoàn kết thống nhất; vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả tổ chức bộ máy mới của hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước; không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín. Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thắt chặt mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.”[7]. Không chỉ nhấn mạnh xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, mà còn đặt yêu cầu “vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả tổ chức bộ máy mới của hệ thống chính trị”. Điều này kéo theo một thách thức rất cụ thể cán bộ không chỉ “đúng” về đạo đức, mà còn phải “giỏi” về năng lực. Nếu trước đây, một số hạn chế có thể được “che lấp” bởi cơ chế tập thể, thì hiện nay, khi bộ máy tinh gọn, trách nhiệm cá nhân rõ ràng hơn, mọi yếu kém về năng lực sẽ bộc lộ trực tiếp qua hiệu quả công việc.
Nói cách khác, trong giai đoạn hiện nay, “đạo đức cách mạng” phải gắn chặt với “năng lực thực thi”. Một cán bộ liêm khiết nhưng trì trệ, né tránh trách nhiệm thì cũng không thể đáp ứng yêu cầu phát triển. Ngược lại, một người có năng lực nhưng thiếu đạo đức lại càng nguy hiểm hơn, bởi dễ sử dụng năng lực ấy để phục vụ lợi ích cá nhân. Chính vì vậy, tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIV thực chất là sự kết hợp hai yêu cầu tưởng như tách biệt nhưng không thể tách rời vừa “chống suy thoái”, vừa “nâng tầm năng lực”.
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng đặt mạnh vấn đề kiểm soát quyền lực và siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Điều này phản ánh một nhận thức rất rõ ràng khi quyền lực không được kiểm soát, thì dù chủ trương đúng đến đâu cũng có thể bị bóp méo trong quá trình thực thi. Tuy nhiên, nếu chỉ trông chờ vào cơ chế kiểm soát bên ngoài là chưa đủ. Cốt lõi vẫn là cơ chế tự kiểm soát từ bên trong mỗi cán bộ, tức là bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng. Ở đây, tư tưởng Hồ Chí Minh một lần nữa cho thấy chiều sâu thời đại. Người không chỉ yêu cầu cán bộ “không tham nhũng”, mà còn nhấn mạnh phải “trọng dân, gần dân”. Bởi vì, khi cán bộ thực sự gắn bó với Nhân dân, thì chính Nhân dân sẽ trở thành “kênh giám sát” hiệu quả nhất. Một cán bộ xa dân có thể qua mặt tổ chức trong một thời gian, nhưng không thể qua mặt được Nhân dân lâu dài.
Bên cạnh đó, giai đoạn hiện nay cũng đặt ra một yêu cầu mới xây dựng niềm tin của Nhân dân không chỉ bằng đạo đức, mà bằng kết quả cụ thể. Người dân ngày nay không chỉ nghe cán bộ nói gì, mà nhìn rất rõ cán bộ làm được gì. Một con đường được sửa đúng hẹn, một thủ tục hành chính được giải quyết nhanh gọn, một vụ việc khiếu nại được xử lý thấu tình đạt lý… đó chính là những “thước đo sống” của uy tín cán bộ. Niềm tin không còn là khái niệm trừu tượng, mà được “định lượng” bằng trải nghiệm thực tế của người dân. Chính vì vậy, có thể nói, trong bối cảnh hiện nay “sống trọn bổn phận với Nhân dân” không chỉ là yêu cầu đạo đức, mà còn là phương pháp quản trị hiệu quả. Cán bộ càng sát dân thì càng nắm chắc thực tiễn, càng giảm nguy cơ sai lầm trong quyết sách. Ngược lại, xa dân đồng nghĩa với việc ra quyết định trong “khoảng trống thông tin”, dễ dẫn đến chủ quan, duy ý chí.
Một vấn đề không thể né tránh là tình trạng “hình thức hóa” việc học tập nghị quyết và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở một số nơi. Nếu việc học chỉ dừng lại ở hội nghị, báo cáo, viết thu hoạch… mà không chuyển hóa thành hành động cụ thể, thì khoảng cách giữa “nói” và “làm” sẽ ngày càng lớn. Đây chính là “điểm nghẽn” mà giai đoạn hiện nay phải tháo gỡ. Nghị quyết Đại hội XIV đã đặt ra yêu cầu rất rõ gắn kết chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với tổ chức thực hiện. Điều đó có nghĩa là mọi chủ trương phải được “kiểm nghiệm” bằng hiệu quả thực tiễn, chứ không phải bằng số lượng văn bản hay hội nghị. Ở tầm sâu hơn, thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là chống lại những biểu hiện suy thoái rõ ràng, mà là nhận diện những biểu hiện “suy thoái mềm” ngại va chạm, sợ trách nhiệm, làm việc cầm chừng, “đúng quy trình nhưng không đúng thực tiễn”. Những biểu hiện này không ồn ào, nhưng lại làm giảm sút hiệu lực bộ máy một cách âm thầm. Và nếu không được xử lý, nó sẽ bào mòn dần động lực phát triển. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ “sống trọn bổn phận với Nhân dân” phải hướng tới một chuẩn mực cao hơn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; nói đi đôi với làm, lấy kết quả làm thước đo; gần dân, hiểu dân, học dân, coi Nhân dân là trung tâm của mọi quyết sách; tự soi, tự sửa, coi việc rèn luyện đạo đức là nhu cầu tự thân, không phải áp lực bên ngoài.
Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội XIV vì thế mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là sự tri ân, mà còn là lời nhắc nhở nghiêm khắc “di sản của Người chỉ thực sự sống khi được hiện thực hóa trong hành động của đội ngũ cán bộ hôm nay”. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, vì thế, không phải là học những điều cao xa, mà là bắt đầu từ những việc rất cụ thể làm tròn trách nhiệm trong công việc; giữ gìn đạo đức trong sạch; nói đi đôi với làm; dám chịu trách nhiệm; và trên hết là luôn đặt mình trong mối quan hệ mật thiết với Nhân dân. Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh của Người, mỗi chúng ta không chỉ dừng lại ở niềm tự hào, mà cần chuyển hóa thành hành động. Mỗi cán bộ, đảng viên hãy tự hỏi, mình đã thật sự “sống trọn bổn phận với Nhân dân” chưa? Đã thật sự xứng đáng với niềm tin mà Nhân dân gửi gắm chưa? Câu trả lời không nằm ở lời nói, mà ở chính cách chúng ta sống và làm việc mỗi ngày. Bởi lẽ, di sản lớn nhất mà Hồ Chí Minh để lại không chỉ là một sự nghiệp vĩ đại, mà còn là một chuẩn mực đạo đức suốt đời vì nước, vì dân. Và chỉ khi đội ngũ cán bộ hôm nay thực sự thấm nhuần, thực hành được chuẩn mực ấy, thì Đảng mới vững mạnh, Nhân dân mới vững tin, và con đường phát triển của đất nước mới bền vững, dài lâu.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng.
4. Bộ Chính trị (2016), Chỉ thị số 05-CT/TW về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
5. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, 5, 15. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQGST, H.2011, tập 4, trang 272
[2] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQGST, H.2011, tập 5, trang 201
[3] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQGST, H.2011, tập 15, trang 615
[4] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQGST, H.2011, tập 15, trang 615
[5] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQGST, H.2011, tập 4, trang 20
[6] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQGST, H.2011, tập 4, trang 21
[7] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nxb CTQGST, H.2026. tập 2, trang 374-375
