VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ThS. Nguyễn Thị Xiếu - Giảng viên Khoa Nhà nước và pháp luật
Hiện nay, làn sóng toàn cầu hóa đã và đang tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới, đem đến cơ hội và thách thức mới đối với sự phát triển toàn cầu. Toàn cầu hóa đã tạo ra những tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có văn hóa. Với Việt Nam, đất nước đang trong tiến trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, việc lựa chọn mô hình phát triển văn hóa phù hợp là hết sức quan trọng. Toàn cầu hóa mang đến cho Việt Nam cả những cơ hội lớn để phát triển và hội nhập, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Khi bàn về văn hóa, có thể khẳng định văn hoá là một phạm trù rất rộng, rất phong phú, đa dạng, được hiểu với nhiều cách khác nhau khi được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Đến nay, trên thế giới có đến gần 200 định nghĩa khác nhau về văn hoá. Đó là “tổng thể các giá trị tinh thần, vật chất, tri thức, và cảm xúc đặc trưng cho một xã hội hoặc một nhóm người, mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người”[1]. Theo Hồ Chí Minh, nội hàm văn hóa được Người đúc kết như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[2]. Xuất hiện từ những năm 1950, thuật ngữ Toàn cầu hoá (Globalization) đã nhanh chóng trở thành xu thế thời đại. Khi nói đến toàn cầu hóa, chúng ta có thể hiểu đây là “sự lan truyền của các sản phẩm, công nghệ, thông tin, việc làm xuyên biên giới và văn hóa quốc gia”; là “quá trình phát triển kinh tế theo xu thế phát triển hiện đại, kèm theo những khuynh hướng tiên tiến, khi đó, quá trình toàn cầu hoá được xem như một quá trình tăng lên mạnh mẽ của các mối liên hệ, và có sự phụ thuộc, ảnh hưởng qua lại giữa các khu vực, quốc gia và các dân tộc trên thế giới”[3].
Việt Nam là một đất nước có bề dày lịch sử với hơn bốn nghìn năm văn hiến, cùng với những biến đổi, thăng trầm theo thời gian đã hun đúc, tích luỹ, tạo ra được nhiều giá trị, bản sắc văn hoá riêng của dân tộc Việt. Nhận thức sâu sắc được vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của văn hoá trong sự phát triển của đất nước nên ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề phải chú trọng, quan tâm đến việc phát triển văn hoá của dân tộc[4]. Trong bài viết “Nắm vững các quan điểm cơ bản của Đảng chỉ đạo sự nghiệp văn hóa ở nước ta”, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định vị trí, vai trò của văn hóa ngay trong quan điểm đầu tiên: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”[5].
Qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, đặc biệt là từ Đại hội XIII đến các định hướng chiến lược chuẩn bị cho Đại hội XIV, văn hóa luôn được khẳng định là sức mạnh nội sinh quan trọng. Đảng ta nhấn mạnh: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”[6]. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, yêu cầu phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trở thành xung lực trung tâm để khơi thông mọi nguồn lực phát triển[7]. Toàn cầu hóa, với sự giao lưu ngày càng sâu rộng giữa các nền văn hóa, đã mang đến cho văn hóa Việt Nam rất nhiều cơ hội phát triển mới.
Thứ nhất, toàn cầu hóa đã mở ra cơ hội để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Toàn cầu hóa mở ra cơ hội để Việt Nam giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, văn hóa đến bạn bè quốc tế thông qua các hoạt động ngoại giao văn hóa, du lịch, xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Việt Nam sẽ quảng bá những di sản văn hóa được UNESCO vinh danh, các điểm đến độc đáo, văn hóa đa dạng, ẩm thực phong phú. Đồng thời, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thời trang truyền thống có thể được giới thiệu rộng rãi trên thị trường quốc tế, góp phần nâng cao định vị thương hiệu quốc gia.
Thứ hai, mở ra cơ hội tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Toàn cầu hóa tạo điều kiện để Việt Nam tiếp thu những giá trị tiến bộ, khoa học, công nghệ và tri thức của các quốc gia khác nhằm làm giàu thêm kho tàng văn hóa dân tộc; nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Các nghệ sĩ, nhà hoạt động văn hóa Việt Nam cũng có thể tiếp cận với những xu hướng nghệ thuật mới, phương thức quản lý văn hóa hiện đại để sáng tạo ra những tác phẩm có sức lan tỏa quốc tế.
Thứ ba, thúc đẩy phát triển kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa. Văn hóa không còn là lĩnh vực thuần túy tiêu dùng mà đã trở thành nguồn tài nguyên trực tiếp thúc đẩy kinh tế. Toàn cầu hóa giúp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua phát triển các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, và du lịch văn hóa, biến các giá trị truyền thống thành lợi thế cạnh tranh kinh tế cao.
Thứ tư, nâng cao nhận thức và tư duy toàn cầu của người dân. Quá trình hội nhập giúp người dân nâng cao nhận thức, mở rộng tầm nhìn, tiếp cận với các giá trị nhân văn, văn minh của nhân loại; đồng thời khơi dậy lòng tự hào dân tộc, thúc đẩy ý thức tự giác trong việc giữ gìn, bảo tồn và số hóa các di sản văn hóa truyền thống trước nguy cơ bị hòa tan.
Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế và đổi mới sáng tạo. Việt Nam có cơ hội hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế để tranh thủ nguồn lực, công nghệ hiện đại phục vụ công tác trùng tu, bảo tồn di sản. Sự cọ xát trong môi trường toàn cầu buộc các chủ thể văn hóa phải không ngừng đổi mới, sáng tạo, tìm kiếm sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại để sản phẩm văn hóa nội địa có chỗ đứng vững chắc hơn.
Tuy nhiên, khi ranh giới giữa các quốc gia ngày càng trở nên mờ nhạt trên không gian mạng và đời sống thực, văn hóa Việt Nam phải đối mặt với những thách thức không hề nhỏ:
Sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai độc hại và nguy cơ phai nhạt bản sắc. Sự du nhập ồ ạt của các sản phẩm văn hóa đại chúng, lối sống thực dụng, tiện lợi dễ làm thay đổi hệ giá trị của giới trẻ, dẫn đến xu hướng "sính ngoại", quay lưng hoặc lãng quên các lễ hội, nghệ thuật và nghi lễ gia đình truyền thống.
Sự mất cân bằng và nguy cơ đồng hóa văn hóa. Tốc độ đô thị hóa và toàn cầu hóa diễn ra không đều dễ làm gia tăng khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu vùng xa; đồng thời đe dọa trực tiếp đến sự sinh tồn của không gian văn hóa bản địa độc đáo của các dân tộc thiểu số.
Thách thức lớn trong công tác bảo tồn di sản. Áp lực từ phát triển kinh tế, hạ tầng giao thông và đô thị hóa tạo ra xung đột gay gắt với việc bảo vệ các di tích lịch sử. Nhiều nghề truyền thống mất dần do thiếu thế hệ kế thừa và áp lực cạnh tranh từ hàng hóa công nghiệp, trong khi nguồn ngân sách và đội ngũ chuyên gia bảo tồn chất lượng cao còn hạn chế.
Thách thức về an ninh văn hóa trên nền tảng số. Việc ứng dụng công nghệ nếu thiếu định hướng dễ biến văn hóa thành sản phẩm thương mại thuần túy, làm méo mó giá trị thẩm mỹ. Vấn nạn vi phạm bản quyền, sao chép lậu trên không gian mạng diễn ra phức tạp, gây thiệt hại lớn cho các nhà sáng tạo và gây khó khăn cho việc kiểm soát các nội dung phản văn hóa.
Cạnh tranh bất bình đẳng trên thị trường văn hóa. Các tập đoàn giải trí đa quốc gia với lợi thế độc quyền về công nghệ, vốn và truyền thông đang tạo ra sức ép áp đảo đối với các sản phẩm văn hóa nội địa, đặt ra yêu cầu cấp bách cho các nhà sản xuất Việt Nam phải tự đổi mới để không bị lu mờ ngay trên sân nhà.
Để vừa chủ động hội nhập quốc tế, vừa bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền về văn hóa, chúng ta cần triển khai đồng bộ các giải pháp chiến lược:
Một là, kiên trì bảo tồn, phát huy và số hóa các giá trị văn hóa truyền thống, đưa giáo dục di sản vào học đường để nuôi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.
Hai là, “xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa. Tăng cường nguồn lực cho văn hóa. Tiếp thu tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm phát triển, quản lý văn hóa của các nước trên thế giới”[8], trọng dụng nhân tài và ứng dụng các phương thức quản lý văn hóa tiên tiến.
Ba là, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý nhằm ngăn chặn các sản phẩm phản văn hóa, bảo vệ an ninh tư tưởng trên không gian mạng và đầu tư đồng bộ cho hạ tầng văn hóa cơ sở.
Bốn là, nâng cao năng lực cạnh tranh và tối ưu hóa chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ sáng tạo các tác phẩm đỉnh cao mang đậm tâm hồn Việt nhưng có hình thức biểu đạt hiện đại để tự tin vươn ra thị trường thế giới.
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng hệ sinh thái văn hóa số, nâng cao năng lực công nghệ cho đội ngũ nhân lực ngành văn hóa và thực thi nghiêm túc Luật Sở hữu trí tuệ để bảo vệ dòng chảy sáng tạo quốc gia.
Trong hành trình định vị và bảo vệ dòng chảy văn hóa dân tộc trước sóng gió toàn cầu hóa, đội ngũ viên chức, giảng viên các trường chính trị tỉnh đóng vai trò là những người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của Đảng ở địa phương. Ý thức sâu sắc trách nhiệm nghề nghiệp, mỗi giảng viên lý luận chính trị không chỉ thuần túy truyền thụ tri thức, mà phải là người trực tiếp định hướng tư tưởng, xây dựng thế giới quan khoa học và bộ lọc văn hóa sắc bén cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, những chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hội ở cơ sở. Trách nhiệm đặt ra đòi hỏi người giảng viên phải chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp nhuần nhuyễn nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và sự xâm nhập của lối sống ngoại lai độc hại vào từng bài giảng một cách sinh động, thuyết phục. Đồng thời, giảng viên trường chính trị phải là tấm gương mẫu mực về đạo đức công vụ, lối sống văn hóa, đi đầu trong việc hiện thực hóa phương châm xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị. Bằng sự am hiểu sâu sắc thực tiễn địa phương kết hợp với tư duy chiến lược mang tầm thời đại, mỗi viên chức, giảng viên sẽ góp phần trực tiếp vào việc khơi dậy khát vọng cống hiến, tinh thần tự tôn dân tộc, chuyển hóa các giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển bền vững của quê hương, đất nước trong kỷ nguyên hội nhập toàn diện.
Tóm lại, nhìn một cách tổng thể, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế không thuần túy là một tiến trình kinh tế, mà bản chất sâu xa của nó là cuộc đối thoại, và cả sự cạnh tranh gay gắt, giữa các hệ giá trị văn hóa. Đối với Việt Nam, toàn cầu hóa vừa là bàn đạp nâng cánh cho những giá trị nhân văn của dân tộc vươn tầm thế giới, nhưng đồng thời cũng là thác ghềnh thử thách nghiệt ngã bản lĩnh, cốt cách và nội lực của nền văn hóa nước nhà. Trong dòng chảy đầy biến động đó, văn hóa không thể đứng yên bên lề lịch sử, cũng không thể thụ động tự vệ bằng tư duy khép kín; trái lại, văn hóa phải trở thành một thực thể sống động, tự cường, biết chọn lọc tinh hoa để làm giàu cho chính mình và biết dùng công nghệ để số hóa, định hình bản sắc trên không gian mạng.
Trên mặt trận tư tưởng - văn hóa đầy cam go ấy, đội ngũ viên chức, giảng viên tại các trường chính trị tỉnh chính là những người gác cổng, những kiến trúc sư định hình tư duy cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý tương lai. Trách nhiệm của người giảng viên lý luận chính trị hôm nay không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức khoa học, mà quan trọng là phải thắp lên ngọn lửa tự tôn dân tộc, xây dựng một bộ lọc văn hóa sắc bén và biến các nghị quyết của Đảng về văn hóa thành những hành động thực tiễn sinh động. Khi và chỉ khi mỗi cán bộ, đảng viên ý thức sâu sắc văn hóa là gốc rễ của sức mạnh nội sinh, chúng ta mới có thể tự tin đưa con thuyền Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên mà ở đó, kinh tế tăng trưởng vững chắc nhờ bệ đỡ văn hóa, và văn hóa tỏa sáng để khẳng định vị thế độc lập, chủ quyền trọn vẹn của quốc gia trên bản đồ văn minh nhân loại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lương Văn Kế (Chủ biên), Văn hóa Bắc Mỹ trong toàn cầu hóa, Nxb. Giáo dục Việt Nam, H.2011.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, T. 3.
3. Tham khảo định nghĩa hệ quả toàn cầu hóa, nguồn dữ liệu số hóa liên kết học thuật.
4. Bài đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 18, tháng 9/1998.
5. Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2024.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, t. I, H.2021.
7. Định hướng phát triển hệ giá trị văn hóa gắn với chuyển đổi số và công nghiệp văn hóa trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
8. Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2024.
[1] Lương Văn Kế (Chủ biên), Văn hóa Bắc Mỹ trong toàn cầu hóa, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2011, tr. 319-320.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 458.
[3] Tham khảo định nghĩa hệ quả toàn cầu hóa, nguồn dữ liệu số hóa liên kết học thuật.
[4] Bài đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 18, tháng 9/1998.
[5] Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 73.
[6]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, t. I, Hà Nội, 2021, tr. 115 -116.
[7]Định hướng phát triển hệ giá trị văn hóa gắn với chuyển đổi số và công nghiệp văn hóa trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.
[8] Nguyễn Phú Trọng: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 62.
