Nhảy đến nội dung
71 NĂM SẮC LỆNH SỐ 234/SL CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY

71 NĂM SẮC LỆNH SỐ 234/SL CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG CÔNG TÁC TÔN GIÁO Ở TỈNH VĨNH LONG HIỆN NAY

ThS. Trần Thị Thanh Thúy - Giảng viên khoa Lý luận cơ sở

Ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 234/SL về vấn đề tôn giáo. Đây là một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhất trong lịch sử lập pháp Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, về đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước với các tổ chức tôn giáo. Sắc lệnh số 234/SL không chỉ giải quyết những vấn đề thực tiễn của công tác tôn giáo lúc bấy giờ mà còn đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ.

Trải qua hơn bảy thập niên, những giá trị tư tưởng và pháp lý của Sắc lệnh vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời đại. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và bước vào kỷ nguyên phát triển mới, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo tiếp tục là kim chỉ nam cho việc xây dựng và thực thi chính sách tôn giáo, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đối với tỉnh Vĩnh Long - địa phương có đời sống tôn giáo phong phú, đa dạng - việc vận dụng sáng tạo những giá trị của Sắc lệnh số 234/SL có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố khối đoàn kết toàn dân, phát huy các nguồn lực tôn giáo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh.

1. Sắc lệnh số 234/SL, dấu mốc quan trọng trong chính sách tôn giáo

Tư tưởng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành từ rất sớm. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đã xác định rõ chủ trương: “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”[1]. Đây không chỉ là một khẩu hiệu chính trị mà còn là phương châm hành động xuyên suốt của Đảng và Nhà nước trong giải quyết vấn đề tôn giáo. Trên cơ sở tư tưởng đó, ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 234/SL, gồm 5 chương, 16 điều, quy định chi tiết quyền tự do tôn giáo của người dân[2]. Nội dung cốt lõi của Sắc lệnh được thể hiện trên ba phương diện cơ bản 

Thứ nhất, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như một quyền cơ bản của công dân

Sắc lệnh số 234/SL là sự khẳng định rõ ràng và mạnh mẽ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Điều 1 của Sắc lệnh quy định: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Quan điểm này thể hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các công dân, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mọi công dân đều có quyền tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tôn giáo nào, đồng thời được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền đó. 

Sắc lệnh cũng bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng trên thực tế. Các nhà tu hành được tự do giảng đạo; các tổ chức tôn giáo được xuất bản kinh sách, đào tạo chức sắc, mở trường giáo lý; các cơ sở thờ tự được pháp luật bảo hộ. Những quy định đó cho thấy Nhà nước không chỉ thừa nhận quyền tự do tín ngưỡng mà còn có trách nhiệm bảo vệ và tạo điều kiện để quyền đó được thực thi. 

Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt quyền lợi công dân gắn liền với trách nhiệm công dân. Điều 2 của Sắc lệnh quy định các chức sắc, nhà tu hành và tín đồ đều được hưởng mọi quyền lợi và phải thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ của người công dân. Điều đó thể hiện tư tưởng nhất quán của Người: đồng bào có đạo hay không có đạo đều là công dân của nước Việt Nam, đều có trách nhiệm đối với Tổ quốc và dân tộc.

Thứ hai, khẳng định vai trò của tôn giáo trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy nguồn lực tôn giáo phục vụ đất nước

Sắc lệnh số 234/SL  nhìn nhận tôn giáo không chỉ như một nhu cầu tinh thần mà còn là một lực lượng xã hội có khả năng đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước. Chương II của Sắc lệnh quy định các tổ chức tôn giáo được tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội theo quy định của pháp luật; được mở trường tư thục, đào tạo nhân lực phục vụ cộng đồng và thực hiện các hoạt động xã hội phù hợp với tôn chỉ, mục đích của mình. Điều đó phản ánh tư duy rất tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí và vai trò của tôn giáo trong xã hội. Người không xem tôn giáo là một lực lượng đứng ngoài đời sống xã hội mà luôn khuyến khích các tổ chức tôn giáo phát huy những giá trị đạo đức, nhân văn tốt đẹp để phục vụ nhân dân và đất nước. Thực chất, đây là tư tưởng nền tảng cho quan điểm ngày nay của Đảng và Nhà nước về phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển đất nước. Nguồn lực đó không chỉ bao gồm nguồn lực vật chất mà còn là nguồn lực văn hóa, đạo đức, nhân văn, nguồn lực con người và nguồn lực xã hội. Các tổ chức tôn giáo có thể đóng góp tích cực vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, từ thiện xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển cộng đồng, xây dựng đời sống văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ ba, xác lập mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước và các tổ chức tôn giáo

Điều 13 của Sắc lệnh quy định: “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ các tôn giáo”. Đây là một tư tưởng rất tiến bộ, thể hiện sự tôn trọng quyền tự quản của các tổ chức tôn giáo và sự tôn trọng đời sống tín ngưỡng của nhân dân.

Tuy nhiên, sự tôn trọng đó không có nghĩa là tách rời khỏi khuôn khổ pháp luật. Điều 14 quy định các tổ chức tôn giáo phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước như mọi tổ chức khác trong xã hội. Điều 7 cũng nhấn mạnh việc nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để phá hoại hòa bình, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc hoặc chống lại lợi ích của đất nước. Như vậy, Sắc lệnh đã đặt nền móng cho mô hình quan hệ Nhà nước và tôn giáo mang tính đặc thù của Việt Nam: Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các tổ chức tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, đồng hành cùng dân tộc và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước.

Có thể khẳng định, Sắc lệnh số 234/SL là sự thể hiện tập trung và sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, phản ánh tầm nhìn chiến lược, tư duy chính trị tiến bộ và bản chất dân chủ, nhân văn của Nhà nước Việt Nam. Những nguyên tắc được xác lập trong Sắc lệnh đã vượt qua khuôn khổ của một văn bản pháp lý đơn thuần để trở thành nền tảng tư tưởng cho chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong suốt hơn bảy thập niên qua.

2. Giá trị thời đại của Sắc lệnh số 234/SL trong giai đoạn hiện nay

71 năm kể từ ngày được ban hành, Sắc lệnh số 234/SL vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và bước vào kỷ nguyên phát triển mới, những tư tưởng cốt lõi được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập trong Sắc lệnh tiếp tục thể hiện sức sống bền vững và giá trị định hướng quan trọng đối với công tác tôn giáo hiện nay.

Trước hết, tư tưởng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục là nền tảng của hệ thống chính sách và pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo. Những nguyên tắc được khẳng định trong Sắc lệnh năm 1955 ngày nay đã được kế thừa và phát triển trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 (có hiệu lực 01/01/2027) và nhiều văn bản pháp luật khác. Điều đó thể hiện sự nhất quán của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.

Thứ hai, tư tưởng phát huy vai trò và nguồn lực của các tôn giáo ngày càng được khẳng định trong thực tiễn phát triển đất nước. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các tổ chức tôn giáo không chỉ thực hiện chức năng tín ngưỡng mà còn trở thành những chủ thể tích cực tham gia các hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển cộng đồng. Điều đó cho thấy nguồn lực tôn giáo đang trở thành một bộ phận quan trọng của nguồn lực xã hội phục vụ phát triển bền vững.

Thứ ba, những nguyên tắc về mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức tôn giáo được xác lập trong Sắc lệnh tiếp tục là cơ sở quan trọng để xây dựng sự đồng thuận xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và những tác động đa chiều từ môi trường quốc tế, việc xây dựng mối quan hệ hài hòa, tôn trọng và đồng hành giữa Nhà nước với các tổ chức tôn giáo càng có ý nghĩa quan trọng đối với việc giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh xã hội và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.

Đồng thời, những tư tưởng được thể hiện trong Sắc lệnh cũng là cơ sở quan trọng để nhận diện và đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tôn giáo nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội và xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc.

Có thể khẳng định rằng, giá trị lớn nhất của Sắc lệnh số 234/SL không chỉ nằm ở việc giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo trong hoàn cảnh lịch sử năm 1955 mà còn ở chỗ xác lập những nguyên tắc có giá trị lâu dài về quyền tự do tín ngưỡng, phát huy nguồn lực tôn giáo và xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước với các tổ chức tôn giáo. Đó chính là những giá trị tư tưởng mang tính thời đại, tiếp tục soi sáng công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

3. Thực tiễn vận dụng giá trị của sắc lệnh số 234/SL trong công tác tôn giáo ở tỉnh Vĩnh Long

Vĩnh Long là vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, nơi hội tụ nhiều tôn giáo cùng chung sống, phát triển trong tinh thần đoàn kết, hòa hợp và đồng hành cùng dân tộc. Hiện nay, toàn tỉnh có 12 tôn giáo đang hoạt động với 1.309 cơ sở tôn giáo, 2.797 chức sắc, 6.101 chức việc và khoảng 1.130.980 tín đồ, chiếm khoảng 26,5% dân số toàn tỉnh[3]. Đây là lực lượng xã hội quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống cộng đồng.

Những năm qua, tỉnh Vĩnh Long luôn quán triệt và thực hiện nhất quán chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Các hoạt động tôn giáo hợp pháp được tạo điều kiện thuận lợi; nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng chính đáng của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm.

Các chức sắc, chức việc và tín đồ các tôn giáo tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương phát động; tham gia hiệu quả công tác từ thiện, nhân đạo, chăm lo người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, góp phần bảo đảm an sinh xã hội.

Đặc biệt, việc phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo đã trở thành điểm sáng trong quá trình xây dựng và phát triển địa phương. Toàn tỉnh hiện có 214 di tích được xếp hạng, trong đó có 49 di tích thuộc các cơ sở tôn giáo, bao gồm 02 di tích của đạo Cao Đài và 47 di tích Phật giáo[4]. Nhiều công trình tôn giáo không chỉ mang giá trị văn hóa, kiến trúc, tín ngưỡng mà còn gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc…

Tiêu biểu là Chùa Tuyên Linh, nơi gắn với cuộc đời và hoạt động của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc trong những năm cuối đời. Đây còn là địa điểm ghi dấu cuộc gặp gỡ giữa cụ Nguyễn Sinh Sắc và Tổ Khánh Hòa - người có công lớn trong phong trào chấn hưng Phật giáo Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Giá trị lịch sử đặc biệt ấy đã làm cho ngôi chùa trở thành biểu tượng của sự giao thoa giữa truyền thống yêu nước và tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam.

Đối với đạo Cao Đài, Thánh tịnh Ngọc Sơn Quang là một di tích tiêu biểu gắn với nhiều hoạt động yêu nước và phong trào đấu tranh vì hòa bình của nhân dân miền Nam trước năm 1975. Đại lễ Cầu nguyện hòa bình năm 1970 được tổ chức tại đây đã trở thành sự kiện có ý nghĩa lịch sử, thể hiện tinh thần đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo.

Những giá trị văn hóa, lịch sử và đạo đức của các tôn giáo đã góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Vĩnh Long, đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển du lịch văn hóa, giáo dục truyền thống và xây dựng con người Vĩnh Long trong thời kỳ mới.

Kết luận

Trải qua 71 năm, Sắc lệnh số 234/SL vẫn là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử chính sách tôn giáo của Việt Nam. Những tư tưởng nhân văn, tiến bộ và khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Sắc lệnh đã trở thành nền tảng lý luận và thực tiễn cho công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Đối với tỉnh Vĩnh Long, việc quán triệt và vận dụng sáng tạo những giá trị của Sắc lệnh không chỉ góp phần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân mà còn phát huy hiệu quả nguồn lực tôn giáo trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng quê hương Vĩnh Long giàu đẹp, văn minh, nghĩa tình và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới của đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. https://congan.vinhlong.gov.vn/phan-bac-quan-diem-sai-trai/dam-bao-quyen-tu-do-tin-nguong-cua-chuc-sac-dong-bao-cac-ton-giao-312.html

2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. CTQGST, Hà Nội, tập 4, tập 9

3. Phạm Huy Thông (2004), Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật, Hà Nội

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQGST, H.2011, t.4, tr. 8

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQGST, H. 2011, t.9, tr.522

[3] https://congan.vinhlong.gov.vn/phan-bac-quan-diem-sai-trai/dam-bao-quyen-tu-do-tin-nguong-cua-chuc-sac-dong-bao-cac-ton-giao-312.html

[4] Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long