NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA VĨNH LONG
NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH CỦA VĨNH LONG
ThS. Nguyễn Thị Thu Hà - Giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật
Tóm tắt
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness Index - PCI) là công cụ quan trọng phản ánh chất lượng điều hành kinh tế, mức độ thuận lợi của môi trường đầu tư kinh doanh và khả năng hỗ trợ doanh nghiệp của chính quyền địa phương. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt giữa các địa phương, việc nâng cao PCI không chỉ góp phần cải thiện hình ảnh của tỉnh mà còn tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Bài viết phân tích thực trạng PCI của tỉnh Vĩnh Long trong những năm gần đây, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh trong giai đoạn tới.
Từ khóa: PCI; năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; cải thiện môi trường đầu tư; Vĩnh Long.
1. Mở đầu
Vĩnh Long nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí kết nối giao thương thuận lợi giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Những năm gần đây, tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và cải cách hành chính. Trong những năm qua, chỉ số PCI của tỉnh Vĩnh Long có xu hướng giảm. Đặc biệt năm 2025, PCI của tỉnh Vĩnh Long xếp vào nhóm địa phương có chất lượng điều hành “Tương đối thấp”. Do đó, nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tại Vĩnh Long có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, góp phần hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế địa phương.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
PCI là hệ thống chỉ số được xây dựng nhằm đánh giá và xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền các tỉnh, thành phố tại Việt Nam. Chỉ số này được hình thành trên cơ sở khảo sát ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp đang hoạt động tại địa phương.
Năm 2025, phương pháp đánh giá Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) chính thức được nâng cấp lên phiên bản PCI 2.0 với những thay đổi toàn diện mang tính hệ thống nhằm thích ứng với bối cảnh không gian hành chính mới. Trong đó, khung đánh giá được tinh gọn khoa học có 09 chỉ số thành phần.
- Chỉ số thành phần 1: Gia nhập thị trường. Chỉ số này đo lường mức độ thuận lợi của các thủ tục hành chính để doanh nghiệp tham gia vào khu vực kinh tế chính thức bao gồm đăng ký doanh nghiệp và cấp phép kinh doanh ngành nghề có điều kiện.
- Chỉ số thành phần 2: Tiếp cận nguồn lực. Chỉ số về tiếp cận nguồn lực được tái cấu trúc từ chỉ số “Tiếp cận đất đai” của giai đoạn trước, chỉ số này đo lường khả năng doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng ổn định 03 nhóm nguồn lực sản xuất thiết yếu: mặt bằng/đất đai, vốn tín dụng và dữ liệu/nền tảng số.
- Chỉ số thành phần 3: Tính minh bạch. Chỉ số về tính minh bạch là một trong ba trụ cột quan trọng nhất, có tác động quyết định đến niềm tin, động lực đầu tư và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Chỉ số này đánh giá khả năng tiếp cận thông tin pháp lý, quy hoạch, tính nhất quán của chính sách và chất lượng tương tác giữa chính quyền với doanh nghiệp.
- Chỉ số thành phần 4: Chi phí tuân thủ hành chính. Chỉ số này đo lường gánh nặng về thời gian và chi phí của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính, đồng thời phản ánh hiệu quả vận hành và phục vụ của bộ máy chính quyền địa phương.
- Chỉ số thành phần 5: Chi phí không chính thức. Chỉ số này phản ánh mức độ phổ biến và quy mô của các khoản chi ngoài quy định mà doanh nghiệp phải chi trả trong mối quan hệ với bộ máy quản lý nhà nước. Đồng thời đo lường tình trạng nhũng nhiễu trong các lĩnh vực thanh tra, kiểm tra, đấu thầu, cấp phép và tiếp cận dịch vụ công.
- Chỉ số thành phần 6: Cạnh tranh bình đẳng. Chỉ số này đo lường mức độ duy trì môi trường kinh doanh công bằng, không phân biệt đối xử giữa các loại hình, quy mô doanh nghiệp. Đồng thời đánh giá mức độ kiểm soát các đặc quyền trong tiếp cận nguồn lực, thông tin và thủ tục hành chính của nhóm doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp có mối quan hệ thân hữu.
- Chỉ số thành phần 7: Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Chỉ số Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp là một trong ba chỉ số trụ cột quan trọng nhất, có tác động trực tiếp đến động lực đầu tư và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp thông qua việc đo lường hiệu quả các chương trình trợ giúp của chính quyền và chất lượng nguồn lao động tại địa phương.
- Chỉ số thành phần 8: Thiết chế pháp lý. Chỉ số Thiết chế pháp lý phản ánh niềm tin và hiệu quả vận hành của các cơ quan bảo vệ quyền kinh doanh, bảo đảm thực thi hợp đồng thương mại và duy trì trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
- Chỉ số thành phần 9: Chính quyền kiến tạo. Chỉ số này đo lường mức độ chủ động, nhất quán và linh hoạt của bộ máy chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, đồng thời phản ánh rõ nét vai trò đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp trên thực tế. Đây là một trong ba chỉ số trụ cột quan trọng nhất, có tác động quyết định đến động lực dòng vốn đầu tư và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
Những chỉ số này phản ánh toàn diện chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền địa phương và mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh.
2.2. Thực trạng chỉ số PCI của tỉnh Vĩnh Long
Giai đoạn 2016 - 2020, Vĩnh Long là một trong những địa phương có chất lượng điều hành kinh tế khá tốt. Năm 2019, tỉnh đạt 71,30 điểm và xếp thứ 3/63 tỉnh, thành phố, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước(1). Năm 2020 đạt 69,34 điểm, đứng thứ 6 toàn quốc(2). Tuy nhiên, từ năm 2021 trở lại đây, PCI của tỉnh có xu hướng giảm. Năm 2021 đạt 65,43 điểm, xếp thứ 23/63(3). Năm 2022 chỉ còn 64,40 điểm, xếp thứ 40/63 tỉnh, thành phố(4). Năm 2023 và 2024, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chỉ tiến hành xếp hạng 30 tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế tốt nhất. Trong hai năm này, Vĩnh Long không lọt vào nhóm Top 30.
Năm 2025, PCI của tỉnh Vĩnh Long xếp vào nhóm địa phương có chất lượng điều hành “Tương đối thấp”. Điểm số tổng hợp của tỉnh hiện thấp hơn 3,97 điểm so với mức trung vị cả nước và thấp hơn 1,94 điểm so với trung vị vùng Đồng bằng sông Cửu Long(5). Nhưng, nếu phân tích từng chỉ số thành phần thì tỉnh Vĩnh Long ghi nhận nhiều kết quả nổi bậc. Cụ thể:
Chỉ số tiếp cận nguồn lực đạt 6.55 điểm, xếp thứ 04/34 tỉnh, thành phố, vượt xa trung vị vùng Đồng bằng sông Cửu Long (6,19 điểm), trung vị toàn quốc (6,05 điểm) và tiệm cận mức điểm cao nhất cả nước (6,69 điểm). Kết quả này cho thấy tỉnh có nhiều điểm sáng và lợi thế cạnh tranh. Môi trường đầu tư của tỉnh đảm bảo an toàn cao về quyền tài sản với điểm rủi ro bị thu hồi đất ở mức rất thấp (đạt 1,40 điểm so với trung vị quốc gia là 1,82 điểm). Công tác chuyển đổi số hỗ trợ doanh nghiệp phát huy hiệu quả tốt. Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá chất lượng nền tảng số dùng chung của tỉnh ở mức “Tốt” đạt 69,88%(6).
Chỉ số thiết chế pháp lý đạt 7,65 điểm, xếp hạng 09/34 tỉnh, thành phố, vinh dự đứng trong nhóm 10 địa phương dẫn đầu cả nước. Mức điểm này vượt xa trung vị toàn quốc (7,29 điểm) và cao hơn mức trung vị vùng Đồng bằng sông Cửu Long (7,50 điểm) (7). Kết quả này cho thấy hệ thống tư pháp và công tác đảm bảo an ninh trật tự của tỉnh được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá rất cao, trở thành điểm tựa vững chắc cho môi trường đầu tư.
Tuy nhiên, còn một số chỉ số ở nhóm thấp. Chẳng hạn như Chỉ số về chi phí không chính thức tỉnh Vĩnh Long đạt 6,01 điểm. Mặc dù điểm tổng hợp của chỉ số này ở mức thấp, nhưng tỉnh vẫn ghi nhận một số chỉ tiêu thành phần có kết quả tích cực hơn mức bình quân toàn quốc. Chẳng hạn như chi phí trong công tác thanh tra, kiểm tra: chỉ có 7,41% doanh nghiệp phản ánh có phát sinh chi phí ngoài quy định trong hoạt động thanh, kiểm tra, kết quả này tốt hơn so với mức trung vị cả nước (12,50%). Tình trạng nhũng nhiễu chung: tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục hành chính là phổ biến dừng ở mức 27,03%, khả quan hơn đáng kể so với mức trung vị quốc gia (46,86%)(8).
Chỉ số gia nhập thị trường đạt 6,79 điểm. Mặc dù chỉ số này được xếp hạng thấp nhưng có nhiều chỉ số thành phần đạt kết quả vượt trội. Công tác hướng dẫn và thực hiện quy trình thủ tục bước đầu ghi nhận nhiều điểm cải thiện, các thủ tục cấp phép kinh doanh có điều kiện được công khai minh bạch: có 80% doanh nghiệp đánh giá các tài liệu hướng dẫn là rõ ràng, đầy đủ (vượt xa mức trung vị cả nước là 67,66%); 84,62% doanh nghiệp ghi nhận quy trình giải quyết thực tế đúng như văn bản quy định (cao hơn trung vị cả nước là 70,71%). Tỷ lệ hồ sơ phải yêu cầu sửa đổi từ 02 lần trở lên ở mức 36,36%, thấp hơn so với mức trung vị toàn quốc (37,98%)(9).
Chỉ số về tính minh bạch đạt 6,66 điểm. Chỉ số này thấp hơn mức trung vị cả nước (6,93) nhưng công tác công khai thông tin nền tảng và tương tác với doanh nghiệp trên môi trường điện tử ghi nhận nhiều chuyển biến tốt, chất lượng Cổng thông tin điện tử cấp tỉnh đạt 68,02 điểm, vượt xa mức trung vị quốc gia (58,40 điểm); tỷ lệ doanh nghiệp nhận được phản hồi thỏa đáng đối với các kiến nghị, phản ánh đạt 60,87%, khả quan hơn mức trung vị cả nước (50%)(10).
2.3. Giải pháp nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Long
Để khắc phục triệt để các hạn chế, bứt phá khỏi nhóm có chất lượng điều hành “Tương đối thấp” của năm 2025, đồng thời duy trì phát huy các chỉ số có lợi thế như chỉ số tiếp cận nguồn lực, chỉ số thiết chế pháp lý,… xin đề xuất một số giải pháp sau:
Một là, nâng cao tính minh bạch trong điều hành. Để cải thiện chỉ số minh bạch, tỉnh cần xây dựng hệ thống dữ liệu mở phục vụ doanh nghiệp và nhà đầu tư. Tất cả các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, danh mục dự án kêu gọi đầu tư, kế hoạch đấu thầu và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần được công khai trên nền tảng số theo hướng dễ tra cứu, dễ tiếp cận và cập nhật thường xuyên. Đồng thời chuyển đổi mạnh mẽ tư duy điều hành, thay đổi từ tư duy “quản lý, tháo gỡ khó khăn đơn thuần” sang tư duy “chủ động phục vụ, đồng hành và kiến tạo” hướng tới xây dựng một hệ sinh thái phát triển kinh tế tư nhân toàn diện, liêm chính, minh bạch theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Hai là, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Tỉnh cần xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả làm việc của các sở, ngành và địa phương dựa trên mức độ hài lòng của doanh nghiệp. Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh và Chủ tịch UBND cấp xã, phường chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chủ tịch UBND tỉnh về kết quả các chỉ số thành phần thuộc lĩnh vực, địa bàn phụ trách; thực hiện nghiêm nguyên tắc “6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”; kiên quyết chấm dứt tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Bên cạnh đó, việc tổ chức đối thoại doanh nghiệp định kỳ cần được thực hiện theo hướng giải quyết dứt điểm các kiến nghị thay vì chỉ ghi nhận ý kiến.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất. Cải cách hành chính không chỉ dừng ở việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ mà cần hướng tới giảm số lượng thủ tục và giảm số lần doanh nghiệp phải tiếp xúc với cơ quan nhà nước. Tỉnh cần rà soát toàn diện các thủ tục liên quan đến đầu tư, xây dựng, môi trường và đất đai. Đồng thời áp dụng quy trình liên thông điện tử giữa các sở, ngành để doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần. Việc công khai thời gian xử lý, trách nhiệm của từng cơ quan và kết quả giải quyết hồ sơ sẽ giúp giảm đáng kể chi phí thời gian và nâng cao sự hài lòng của nhà đầu tư.
Bốn là, phát triển mạnh hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp và doanh nghiệp mới thành lập. Tỉnh cần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị hỗ trợ doanh nghiệp, cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí về pháp lý, thuế, kế toán, chuyển đổi số và tiếp cận vốn. Đồng thời, cần tăng cường các chương trình đào tạo khởi nghiệp, kết nối doanh nghiệp với ngân hàng, quỹ đầu tư và các tổ chức xúc tiến thương mại. Việc hỗ trợ doanh nghiệp ngay từ giai đoạn đầu sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và tạo động lực cho các nhà đầu tư mới gia nhập thị trường.
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, điều hành. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng điều hành kinh tế và cải thiện PCI của Vĩnh Long. Tỉnh cần xây dựng chính quyền số, tăng tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình, số hóa hồ sơ và kết nối dữ liệu giữa các sở, ngành để giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp. Đồng thời, cần công khai thủ tục hành chính và tiến độ xử lý hồ sơ trên các nền tảng số nhằm nâng cao tính minh bạch, hạn chế tiếp xúc trực tiếp và giảm chi phí không chính thức. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ số trong giám sát, đánh giá công vụ sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý, trách nhiệm của cán bộ và khả năng phản ứng chính sách của chính quyền. Khi quá trình giải quyết thủ tục được thực hiện nhanh chóng, minh bạch và thuận tiện hơn, môi trường đầu tư kinh doanh của Vĩnh Long sẽ được cải thiện, qua đó góp phần nâng cao các chỉ số thành phần PCI và tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư.
3. Kết luận
Nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là yêu cầu quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế của tỉnh Vĩnh Long trong quá trình hội nhập và cạnh tranh giữa các địa phương. Để cải thiện PCI trong thời gian tới, tỉnh cần triển khai đồng bộ các giải pháp như tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền số, nâng cao tính minh bạch, phát triển hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp và tăng cường trách nhiệm của bộ máy hành chính. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng điều hành kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững của tỉnh Vĩnh Long.
---------------
(1) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2020), Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam 2019, tr.48.
(2) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2021), Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam 2020, tr.46.
(3) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2022), Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam 2021, tr.45.
(4) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2023), Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam 2022 (Hồ sơ 63 tỉnh, thành phố Việt Nam), tr.92.
(5), (6), (7), (8), (9), (10) Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long (2026), Báo cáo Kết quả tham dự Lễ công bố Báo cáo Kinh tế tư nhân Việt Nam và Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025, tr.7, tr.12, tr.28, tr.19, tr.9, tr.14.
