Nhảy đến nội dung
XÃ BÌNH ĐẠI: BÀI HỌC KINH NGHIỆM SAU 01 NĂM THỰC HIỆN MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 02 CẤP

XÃ BÌNH ĐẠI: BÀI HỌC KINH NGHIỆM SAU 01 NĂM THỰC HIỆN MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 02 CẤP

Nguyễn Tấn Đạt, Giám đốc Trung tâm Chính trị xã Bình Đại

ThS. Dương Quốc Hoàng, Phó Hiệu trưởng Trường CHính trị Phạm Hùng

 

1. Khái quát tình hình

Xã Bình Đại được thành lập theo Nghị quyết số 1687/NQ-UBTVQH15, ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Vĩnh Long năm 2025 trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của 03 đơn vị (xã Bình Thắng, xã Bình Thới và thị trấn Bình Đại), có diện tích tự nhiên 44,7 km2, xã có 16 ấp, với 8.703 hộ, dân số 33.473 nhân khẩu. Đảng bộ xã có 34 tổ chức đảng trực thuộc[1]; thực hiện chủ trương về sắp xếp, sáp nhập ấp, đến ngày 01/7/2026, xã giảm số ấp từ 16 còn 11, dẫn đến số tổ chức Đảng giảm từ 34 còn 29. Tổng số đảng viên là 999, trong đó đảng viên chính thức 985 đồng chí, đảng viên dự bị 14 đồng chí. Xã Bình Đại vận hành theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, tập trung vào việc tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước tại cơ sở, hệ thống chính trị bao gồm Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hệ thống chính trị hiện nay có tư tưởng ổn định và bản lĩnh chính trị vững vàng. Tổng số lượng biên chế cán bộ, công chức, viên chức được giao là 417 chỉ tiêu, trong đó số lượng hiện có thực tế là 403 biên chế (trong đó: Khối đảng 30; Khối chính quyền 50 và đơn vị sự nghiệp công lập 333). Phần lớn cán bộ, công chức đã được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn và lý luận chính trị đáp ứng tốt yêu cầu chuẩn hóa cán bộ trong giai đoạn mới; cơ cấu giữa các khối tương đối hợp lý, bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị. Đội ngũ cán bộ có sự kế thừa giữa các thế hệ, bảo đảm tính ổn định và phát triển; cán bộ trẻ từng bước được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn lâu dài.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, khối lượng công việc tăng nhanh, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao trong khi biên chế chưa được điều chỉnh tương ứng. Một số lĩnh vực chưa bố trí được cán bộ có chuyên môn sâu, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

2. Kết quả đạt được

Tại hội nghị sơ kết đánh giá 01 năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp do Ban Thường vụ Đảng ủy xã tổ chức vào ngày 26 tháng 5 năm 2026. Đại biểu dự hội nghị tham gia thảo luận nhiều nội dung trọng tâm, sát thực tế của địa bàn xã.  Qua đó, hội nghị thống nhất đánh giá như sau:

2.1. Ưu điểm

- Về công tác lãnh đạo, điều hành tổ chức và bộ máy:

+ Bộ máy được tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả: Việc sắp xếp, kiện toàn, tổ chức bộ máy đã giúp bộ máy chính quyền địa phương tinh gọn hơn, giảm cấp trung gian, hoạt động ổn định và thông suốt. Ủy ban nhân dân xã ban hành đầy đủ các quy chế, quy định chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, các ngành.

+ Nền tảng ban đầu vững chắc: Trung tâm hành chính công của xã ngay khi thành lập được vận hành thông suốt, hoạt động mang tính chuyên nghiệp hơn, đáp ứng được nhu cầu giải quyết các thủ tục hành chính cho nhân dân, đặc biệt luôn được xếp trong top 10/124 hệ thống các Trung tâm phục vụ hành chính công các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

+ Công tác chuyển đổi số đạt nhiều kết quả tích cực: 100 % văn bản đi được ký số và phát hành trên hệ thống thông tin điều hành tác nghiệp; 100 % cán bộ, công chức, viên chức thực hiện quy trình tiếp nhận và xử lý văn bản trên hệ thống tin điều hành tác nghiệp; việc thu thập, nộp hồ sơ điện tử được triển khai theo quy định.

- Về phân quyền, phân cấp và ủy quyền:

 Đã góp phần rút ngắn thủ tục, tăng tính chủ động: các thủ tục hành chính được cắt giảm bớt khâu trung gian, cán bộ, công chức làm việc gần dân và sát dân hơn. Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn duy trì luôn ở mức cao, trên 95 %. Các nội dung ủy quyền được thực hiện đảm bảo tính pháp lý, phạm vi rõ rang đã tạo điều kiện cho bộ máy vận hành linh hoạt, đẩy nhanh tiến độ xử lý công việc.

- Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin

Do được thừa hưởng hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng của cấp huyện để lại nên xã gặp thuận lợi trong bố trí, sử dụng trụ sở cho các cơ quan, đơn vị trong phạm vi gần nhau; vận hành hệ thống công nghệ thông tin đảm bảo thông suốt, hiệu quả; từ đó góp phần cho xử lý công việc hiệu quả, đảm bảo yêu cầu, thời gian quy định.

2.2. Hạn chế

- Khối lượng công việc phát sinh quá nhiều, nhân sự thực hiện chưa đảm bảo số lượng so với yêu cầu công việc, dẫn đến 01 người phải kiêm nhiệm nhiều việc, tạo ra áp lực cho công chức.

- Kinh phí chi cho thực hiện nhiệm vụ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu.

- Việc đồng bộ, liên thông các phần mềm trong xử lý công việc chuyên ngành còn chưa thống nhất, gây khó khăn trong giải quyết thủ tục hành chính, “kỹ năng số” của nhiều cán bộ, công chức chưa đồng đều, từ đó gây ảnh hưởng hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, số hóa dữ liệu.

- Nhận thức và “kỹ năng số” của một bộ phận không nhỏ người dân hạn chế dẫn đến khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ công.

3. Bài học kinh nghiệm

Từ thực tế địa phương qua 01 năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, xã Bình Đại rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Một là, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng ủy xã, đồng thời phải có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc để bộ máy vận hành thông suốt ngay từ đầu.

Hai là, việc phân cấp, phân quyền cho xã phải đồng bộ, gắn với đủ nguồn lực về tài chính, dữ liệu từ tỉnh xuống xã phải thông suốt, liên thông; thẩm quyền phải rõ ràng để không có sự đùn đẩy trách nhiệm; tránh tình trạng nhiều lĩnh vực chuyên môn mà xã hỏi tỉnh, tỉnh trả lời nghiên cứu văn bản, hoặc coi văn bản mà làm.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện mới. Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải mạnh dạn, tiên phong dám nghỉ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng quản trị đa nhiệm vụ cho cán bộ. Cấp tỉnh phải có chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao về làm việc tại xã, việc đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý ngoài hiệu quả theo KPI cần đánh giá thêm ở mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Tiến tới mở rộng đánh giá công chức, viên chức không giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý theo định kỳ hàng quý để giám sát, đánh giá hiệu quả nhiệm vụ.

Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số để tiến tới thay thế dần quản trị truyền thống bằng quản trị số; cấp trung ương, cấp tỉnh phải đẩy mạnh cung cấp các dịch vụ công trực tuyến, bảo đảm sự liên thông đồng bộ trong xử lý văn bản trên môi trường điện tử để rút ngắn hơn thời gian xử lý công việc. 

Năm là, tập trung triển khai các giải pháp nhằm “tăng kỷ năng số” cho nhân dân bằng các hoạt động như tuyên truyền, hướng dẫn, tổ chức bình dân học vụ số từng nhà; thực hiện mô hình mỗi cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên hướng dẫn, cầm tay chỉ việc kỹ năng số cho 01 hộ dân/01 ngày.

Sáu là, lấy người dân làm trung tâm trong mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, suy cho cùng bộ máy nhà nước được lập ra ngoài việc là công cụ quản trị quốc gia thì chủ yếu là phục vụ nhân dân. Vì vậy, mọi cải cách, quy trình, thủ tục đều hướng tới giảm thời gian, đi lại, giảm chi phí cho người dân, do vậy cần thường xuyên lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và phản ánh của nhân dân để có sự điều chỉnh hoạt động của chính quyền, nâng cao sự hài lòng của nhân dân.

[1]gồm: 03 đảng bộ cơ sở (Đảng bộ Các Cơ quan Đảng, Đảng bộ Ủy ban nhân dân, Đảng bộ Bệnh viện Đa khoa khu vực Bình Đại); 05 chi bộ cơ sở (Chi bộ Công an, Chi bộ Quân sự, Chi bộ Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công, Chi bộ Trung tâm Dạy nghề - Giáo dục thường xuyên, Chi bộ Trường Trung học phổ thông Lê Hoàng Chiếu); 26 chi bộ trực thuộc (10 chi bộ đơn vị sự nghiệp (09 trường và 01 Trạm Y tế) và 16 chi bộ ấp).