VẬN DỤNG NHỮNG NỘI DUNG CỐT LÕI CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 10-NQ/TW, NGÀY 08/6/2026 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG GIẢNG DẠY CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
VẬN DỤNG NHỮNG NỘI DUNG CỐT LÕI CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 10-NQ/TW, NGÀY 08/6/2026 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG GIẢNG DẠY CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ThS. Dương Quốc Hoàng - Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị Phạm Hùng
Tóm tắt
Ngày 08/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về phát huy nguồn lực bên ngoài gắn với tăng cường nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng. Nghị quyết chuyển từ tư duy thu hút vốn sang phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả và đổi mới sáng tạo; những điểm mới của Nghị quyết là cơ sở quan trọng để cập nhật, đổi mới nội dung giảng dạy Chương trình Trung cấp lý luận chính trị. Trên cơ sở phân tích những điểm mới của Nghị quyết, bài viết đề xuất định hướng vận dụng vào một số học phần nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Từ khóa: Nghị quyết số 10-NQ/TW; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; giảng dạy lý luận chính trị; hội nhập quốc tế.
Trong điều kiện đất nước đẩy mạnh hội nhập quốc tế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần các văn kiện của Đảng, công tác giáo dục lý luận chính trị đặt ra yêu cầu phải không ngừng đổi mới nội dung giảng dạy theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Theo đó, việc cập nhật thường xuyên các nghị quyết, chủ trương mới của Đảng vào chương trình đào tạo tại các trường chính trị là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm tính Đảng, tính khoa học, tính thực tiễn của nội dung giảng dạy, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng khi chuyển từ định hướng thu hút vốn đầu tư sang phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Đây là sự bổ sung, phát triển quan trọng trong đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để cập nhật, đổi mới nội dung giảng dạy Chương trình Trung cấp lý luận chính trị theo yêu cầu của giai đoạn mới.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về nội dung và giải pháp thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, nhưng việc vận dụng các quan điểm, chủ trương mới của Nghị quyết vào giảng dạy Chương trình Trung cấp lý luận chính trị vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Trong khi đó, nhiều nội dung của Nghị quyết có thể tích hợp hiệu quả vào các học phần như Nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử; Kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và kinh tế chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; Quản lý hành chính nhà nước và các chuyên đề nghiên cứu thực tiễn. Từ đó, bài viết tập trung phân tích những điểm mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW và đề xuất định hướng vận dụng vào một số học phần nhằm góp phần đổi mới nội dung giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
1. Những điểm mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW cần được cập nhật trong giảng dạy Chương trình Trung cấp lý luận chính trị
Nghị quyết số 10-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh mô hình tăng trưởng của Việt Nam đang chuyển từ phát triển chủ yếu dựa vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên sang phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, tư duy phát triển đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng có sự thay đổi căn bản so với trước đây.
Thứ nhất, Nghị quyết đã xác lập nhận thức mới về vị trí của “khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” trong nền kinh tế quốc dân. Nếu như trước đây các văn kiện chủ yếu nhấn mạnh việc “thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài” (FDI) nhằm bổ sung nguồn vốn cho phát triển thì Nghị quyết số 10-NQ/TW tiếp cận toàn diện hơn khi xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, vừa là nguồn lực phát triển, vừa là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng thị trường quốc tế. Quan điểm này phản ánh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, coi đầu tư nước ngoài không đơn thuần là dòng vốn mà là tổng hòa của vốn, tri thức, công nghệ, quản trị và mạng lưới liên kết toàn cầu.
Thứ hai, Nghị quyết thể hiện rõ sự chuyển đổi rõ nét từ mục tiêu ưu tiên quy mô vốn sang ưu tiên chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Đây là điểm mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Nếu trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, việc thu hút càng nhiều dự án và càng nhiều vốn đầu tư càng được coi là thành công thì trong bối cảnh hiện nay, thành công phải được đo bằng chất lượng công nghệ, khả năng đổi mới sáng tạo, mức độ chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước và đóng góp thực chất đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Như vậy, tiêu chí đánh giá hiệu quả của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không còn chỉ dựa trên lượng vốn đăng ký hay số lượng dự án, mà được đánh giá thông qua mức độ đóng góp vào nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và thúc đẩy phát triển bền vững của nền kinh tế. Sự chuyển đổi này phản ánh yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ ba, Nghị quyết chuyển từ tư duy quản lý đầu tư sang tư duy kiến tạo phát triển. Theo đó, vai trò của Nhà nước không chỉ dừng ở việc cấp phép, quản lý hay kiểm soát hoạt động đầu tư mà tập trung xây dựng thể chế minh bạch, ổn định, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, nguồn nhân lực chất lượng cao, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Đây là sự cụ thể hóa quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân và doanh nghiệp mà Đảng đã xác định trong nhiều văn kiện gần đây.
Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển đồng bộ hệ sinh thái đầu tư nước ngoài thay vì chỉ chú trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tư duy mới này bao gồm việc phát triển đồng thời thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, các thiết chế tài chính hiện đại, đầu tư gián tiếp và các không gian phát triển mới nhằm nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc tế phục vụ phát triển đất nước. Điều này phản ánh cách tiếp cận phát triển toàn diện, phù hợp với xu thế vận động của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay.
2. Vận dụng những nội dung của Nghị quyết số 10-NQ/TW trong giảng dạy Chương trình Trung cấp lý luận chính trị
Đối với các trường chính trị, việc cập nhật kịp thời những chủ trương, nghị quyết mới của Đảng vào giảng dạy không chỉ là yêu cầu về mặt chuyên môn mà còn là yêu cầu nhằm bảo đảm tính Đảng, tính khoa học và tính thực tiễn của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nghị quyết số 10-NQ/TW là một trong những nghị quyết có nhiều nội dung mới về phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, vì vậy cần được tích hợp phù hợp vào nhiều học phần trong Chương trình Trung cấp lý luận chính trị theo hướng vừa bảo đảm chuẩn đầu ra của chương trình, vừa giúp học viên hiểu sâu sắc hơn sự phát triển trong tư duy lý luận của Đảng.
* Đối với học phần I.1. Nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Nghị quyết số 10-NQ/TW là minh chứng sinh động cho việc vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi phương thức sản xuất và mô hình tăng trưởng, việc ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm nghiên cứu và phát triển, năng lượng xanh hay chuyển đổi số không chỉ nhằm tăng quy mô đầu tư mà hướng tới phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, khi giảng dạy nội dung về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giảng viên cần giúp học viên nhận thức rằng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài hiện nay đã chuyển từ mục tiêu khai thác lợi thế lao động giá rẻ sang mục tiêu phát triển tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Một nội dung khác cần được khai thác là mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong phát triển kinh tế. Trước đây, việc tiếp cận FDI thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ bổ sung vốn đầu tư. Tuy nhiên, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng khi nhấn mạnh việc phát huy hiệu quả nguồn lực bên ngoài phải gắn với nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là hiệu quả của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ được đánh giá bằng quy mô vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu mà còn phải thể hiện ở khả năng chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hình thành các chuỗi liên kết sản xuất. Đây là nội dung có ý nghĩa lý luận sâu sắc để giảng viên phân tích cho học viên thấy rõ quan điểm phát triển độc lập, tự chủ không đối lập với hội nhập quốc tế mà được xây dựng trên cơ sở phát huy đồng thời nội lực và ngoại lực.
* Đối với học phần I.2. Kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và kinh tế chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Việc vận dụng Nghị quyết số 10-NQ/TW góp phần làm rõ hơn quá trình phát triển nhận thức của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hội nhập quốc tế. Nếu trước đây việc giảng dạy thường tập trung phân tích các thành phần kinh tế và vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Hiến pháp và các văn kiện Đại hội Đảng thì hiện nay cần bổ sung những nội dung mới của Nghị quyết nhằm giúp học viên nhận thức rõ hơn vị trí của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế quốc dân.
Thông qua việc phân tích sáu quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết, giảng viên có thể giúp học viên thấy rõ sự phát triển trong nhận thức của Đảng từ việc coi đầu tư nước ngoài là nguồn bổ sung vốn sang xác định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, đồng thời phải gắn chặt với mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và hiệu quả phát triển của nền kinh tế quốc gia. Đây là minh chứng sinh động cho sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
* Đối với học phần II.2. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Nghị quyết số 10-NQ/TW là minh chứng sinh động cho sự phát triển liên tục trong đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế của Đảng.
Khi giảng dạy về đường lối phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới, giảng viên không nên chỉ dừng lại ở việc giới thiệu nội dung của Nghị quyết mà cần đặt Nghị quyết trong tiến trình phát triển tư duy lý luận của Đảng. Thông qua việc đối chiếu với các văn kiện từ Đại hội VI, Đại hội VII, Đại hội VIII, các nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế tư nhân đến Văn kiện Đại hội XIII và Đại hội XIV, học viên sẽ thấy rõ tính kế thừa và phát triển trong nhận thức của Đảng đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điểm nổi bật không nằm ở việc thay đổi mục tiêu thu hút đầu tư mà ở sự chuyển biến về chất trong tư duy phát triển: từ thu hút vốn sang phát triển hệ sinh thái đầu tư; từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo; từ coi FDI là nguồn lực bên ngoài sang coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một động lực quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Chính cách tiếp cận này sẽ giúp học viên hiểu sâu hơn bản chất của quá trình bổ sung, phát triển đường lối của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn và dự báo xu thế phát triển của thế giới.
Đồng thời, giảng viên cần hướng dẫn học viên phân tích mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với giữ vững độc lập, tự chủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những nội dung cốt lõi xuyên suốt các văn kiện của Đảng và được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 10-NQ/TW thông qua yêu cầu lựa chọn các nhà đầu tư có năng lực công nghệ, quản trị, đổi mới sáng tạo, sử dụng năng lượng xanh, có khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước và đóng góp lâu dài cho nền kinh tế.
* Đối với học phần IV.1. Quản lý hành chính nhà nước
Điểm mới nổi bật của Nghị quyết là chuyển từ tư duy quản lý hành chính đối với hoạt động đầu tư sang tư duy kiến tạo phát triển. Đây là sự thay đổi không chỉ về phương thức quản lý mà còn về nhận thức đối với vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu trước đây chức năng quản lý chủ yếu được nhìn nhận thông qua hoạt động cấp phép, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm thì trong điều kiện phát triển mới, Nhà nước cần tập trung hoàn thiện thể chế, xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Sự chuyển biến này phản ánh yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp, phù hợp với xu hướng quản trị quốc gia hiện đại.
Khi giảng dạy chuyên đề về quản lý nhà nước đối với kinh tế, giảng viên cần hướng dẫn học viên phân tích mối quan hệ giữa chức năng quản lý và chức năng kiến tạo phát triển của Nhà nước. Qua việc nghiên cứu các nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 10-NQ/TW, học viên sẽ nhận thức rõ rằng hiệu quả quản lý không chỉ được đánh giá bằng mức độ kiểm soát hoạt động kinh tế mà còn thể hiện ở năng lực xây dựng thể chế, điều phối nguồn lực và tạo lập môi trường thuận lợi để các chủ thể kinh tế phát triển. Đây cũng là nội dung giúp người học hiểu sâu hơn yêu cầu đổi mới quản trị công trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, giảng viên cần khai thác các nội dung liên quan đến phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Thực tiễn cho thấy, việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài không chỉ phụ thuộc vào chính sách của Trung ương mà còn chịu tác động trực tiếp từ năng lực điều hành của chính quyền địa phương. Do đó, việc phân tích các kinh nghiệm thực tiễn được nêu trong tài liệu Hội nghị sẽ giúp học viên nhận thức rõ vai trò của chính quyền các cấp trong tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, đồng thời hình thành tư duy quản lý theo hướng chủ động, linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm tính thống nhất của nền hành chính quốc gia.
Ngoài các học phần lý luận, Nghị quyết số 10-NQ/TW còn có giá trị thực tiễn rất lớn đối với các chuyên đề về phát triển địa phương, đặc biệt vận dụng các mô hình thực tiễn tiêu biểu về phát triển trung tâm tài chính quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khu thương mại tự do, thu hút đầu tư công nghệ cao và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Đồng Nai và Thái Nguyên. Đây là những minh chứng thực tiễn có giá trị để giảng viên sử dụng trong phương pháp dạy học tích cực, giúp học viên phân tích, so sánh và vận dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề phát triển của địa phương mình.
3. Một số yêu cầu đặt ra đối với giảng viên Trường Chính trị trong quá trình vận dụng Nghị quyết số 10-NQ/TW vào giảng dạy
Để việc vận dụng Nghị quyết số 10-NQ/TW đạt hiệu quả, trước hết giảng viên phải thường xuyên cập nhật các văn kiện mới của Đảng, các văn bản hướng dẫn của Trung ương và thực tiễn triển khai tại các địa phương. Việc cập nhật không chỉ dừng ở nội dung của Nghị quyết mà còn phải theo dõi quá trình thể chế hóa chủ trương thành pháp luật, cơ chế, chính sách và kết quả tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Có như vậy, bài giảng mới bảo đảm tính thời sự, tính thực tiễn và sức thuyết phục.
Bên cạnh đó, giảng viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy hiện đại, kết hợp giữa thuyết trình với phân tích tình huống, trao đổi học thuật, thảo luận nhóm và nghiên cứu thực tế. Quan trọng hơn, việc vận dụng Nghị quyết không nên dừng lại ở việc bổ sung thông tin vào bài giảng mà cần đổi mới phương pháp tổ chức dạy học. Giảng viên cần xây dựng các tình huống thực tiễn, tổ chức thảo luận nhóm, phân tích chính sách, so sánh giữa chủ trương trước đây và những điểm mới của Nghị quyết, từ đó phát huy tư duy phản biện và năng lực vận dụng của học viên. Đây cũng là yêu cầu của quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị theo hướng lấy người học làm trung tâm, gắn lý luận với thực tiễn, phát triển năng lực thay vì chỉ truyền đạt tri thức. Đặc biệt, giảng viên cần khai thác các mô hình phát triển điển hình như Thành phố Hồ Chí Minh với Trung tâm tài chính quốc tế, Hà Nội với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Đà Nẵng với Khu thương mại tự do, Đồng Nai với phát triển công nghiệp và Thái Nguyên với liên kết doanh nghiệp công nghệ cao để minh họa cho các nội dung lý luận, giúp học viên thấy rõ sự thống nhất giữa chủ trương của Đảng và thực tiễn phát triển đất nước.
Mặt khác, giảng viên cần chủ động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn địa phương, đặc biệt là thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh mình, qua đó bổ sung những dẫn chứng sinh động vào bài giảng. Đối với các trường chính trị, việc liên hệ với quá trình thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tư nhân tại địa phương sẽ góp phần nâng cao tính thực tiễn của bài giảng, giúp học viên dễ tiếp thu và vận dụng vào công tác lãnh đạo, quản lý ở cơ sở.
4. Kết luận
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế và phát huy nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước. Những quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Nghị quyết không chỉ kế thừa nhất quán đường lối đổi mới của Đảng mà còn phản ánh sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy thu hút đầu tư theo chiều rộng sang phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Nghị quyết có ý nghĩa định hướng quan trọng đối với việc hoàn thiện thể chế phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại các trường chính trị, việc nghiên cứu, cập nhật và vận dụng những nội dung mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW vào giảng dạy Chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm tính thời sự, tính khoa học và tính thực tiễn của chương trình đào tạo. Việc vận dụng không chỉ dừng lại ở bổ sung thông tin mới vào bài giảng mà cần đặt trong mối liên hệ với hệ thống lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đường lối phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế và quản lý nhà nước về kinh tế. Thông qua đó, giúp học viên nhận thức rõ quá trình bổ sung, phát triển tư duy lý luận của Đảng, hiểu đúng bản chất của các chủ trương mới và nâng cao năng lực vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo, quản lý ở địa phương, cơ quan, đơn vị.
Để thực hiện hiệu quả yêu cầu đó, giảng viên trường chính trị cần chủ động nghiên cứu sâu các nghị quyết, kết luận, quy định mới của Trung ương; thường xuyên cập nhật thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương; đồng thời tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và năng lực tư duy của người học. Việc tăng cường sử dụng các tình huống thực tiễn, các mô hình phát triển tiêu biểu, kết quả tổng kết thực tiễn của các địa phương và doanh nghiệp sẽ góp phần gắn lý luận với thực tiễn, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục lý luận chính trị.
Trong thời gian tới, cùng với quá trình thể chế hóa và triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW, việc tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện nội dung giảng dạy Chương trình Trung cấp lý luận chính trị sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới, năng lực thực tiễn và khả năng tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (2026), Tài liệu Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội.
- Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị Nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị Quản lý hành chính nhà nước, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
