Nhảy đến nội dung
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

              ThS. Lâm Thị Thanh Nga - Giảng viên khoa Xây dựng Đảng                                                                                                                                                

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm về sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp phần lớn giá trị hàng hóa nông sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Với lợi thế về diện tích đất canh tác rộng lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, ĐBSCL không chỉ góp phần quan trọng vào an ninh lương thực quốc gia mà còn tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể thông qua xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp chủ lực như gạo, thủy sản và trái cây. Tuy nhiên, vùng ĐBSCL đang phải đối mặt với những thách thức to lớn và ngày càng gay gắt do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu cùng với sự phát triển nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Những yếu tố này đòi hỏi sự thích nghi nhanh chóng và toàn diện nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của khu vực trong tương lai. Do đó, việc cơ cấu lại ngành nông nghiệp và đổi mới mô hình tổ chức sản xuất trở thành yêu cầu cấp thiết. Việc tái cơ cấu này không chỉ hướng tới nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm mà còn tập trung vào áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, phát triển nông nghiệp thông minh và bền vững, đồng thời thích ứng linh hoạt với biến đổi khí hậu và xu hướng thị trường toàn cầu. Để bảo đảm tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, đòi hỏi vùng ĐBSCL cần cơ cấu lại và đổi mới mô hình tổ chức sản xuất,… theo hướng tăng cường liên kết giữa các chủ thể sản xuất từ trong nội bộ vùng đến liên kết ngoài vùng. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện đời sống của nhân dân trong vùng.

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn giữ vai trò chiến lược hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước. Đây không chỉ là nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội mà còn là lực lượng chủ lực góp phần ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng – an ninh trên phạm vi toàn quốc. Nông nghiệp cung cấp nguồn thực phẩm thiết yếu, nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời tạo công ăn việc làm cho hàng triệu người dân, đặc biệt là tại các vùng nông thôn, góp phần giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân. Bên cạnh đó, nông thôn còn là nơi lưu giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú của các vùng miền. Việc phát triển nông nghiệp và nông thôn gắn liền với việc bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, tạo dựng không gian sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Vì vậy, sự phát triển toàn diện của nông nghiệp, nông dân và nông thôn chính là tiền đề quan trọng để xây dựng một nền kinh tế mạnh, xã hội ổn định và bền vững, đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng mỗi tỉnh của vùng ĐBSCL, đã định hướng là xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu.Vấn đề đặt ra là, trước ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của khoa học - công nghệ thì phát triển nền nông nghiệp, nông sản ở ĐBSCL hiện đại có những thuận lợi và khó khăn gì? Người nông dân cần có những thay đổi gì trong tư duy và hành động gì để có thể làm chủ được công nghệ, làm chủ được nền nông nghiệp hiện đại? Bối cảnh mới đặt ra những yêu cầu gì cho việc hoạch định và thực thi chính sách phát triển vùng, nông nghiệp, nông sản sạch trong thời gian tới để có thể đủ sức cạnh tranh và phát triển bền vững.

Trong những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân trong vùng đã chung sức, đồng lòng, vận dụng sáng tạo các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, tạo lợi thế, động lực phát triển kinh tế - xã hội, mang lại sự thịnh vượng cho người dân trong toàn vùng; phát huy truyền thống đoàn kết và cách mạng, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, liên tục phấn đấu đạt được nhiều thành tựu quan trọng: 

Về Lúa gạo, đây là mặt hàng nông sản chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đóng góp khoảng 50% tổng sản lượng lúa cả nước và chiếm tới 95% lượng gạo xuất khẩu. Theo số liệu thống kê của Cục Trồng trọt, năm 2020, diện tích sản xuất lúa tại ĐBSCL đạt hơn 4 triệu hécta với năng suất bình quân trên 61 tạ/ha. Hiện nay, vùng ĐBSCL duy trì diện tích gieo trồng lúa khoảng từ 3,6 đến 3,7 triệu hécta, tương đương với nhu cầu sử dụng giống lúa ít nhất khoảng 500.000[1] tấn cho toàn bộ các vụ trong năm. ĐBSCL tổ chức sản xuất lúa theo ba vụ chính gồm: vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu và vụ Thu Đông. Trong đó, vụ Đông Xuân được đánh giá là vụ có năng suất cao nhất, với sản lượng lúa toàn vùng đạt trên 10 triệu tấn. Vùng này cũng nổi bật với sự phát triển đa dạng các giống lúa chất lượng cao như ST20, Nàng Hoa 9, các giống lúa thuộc nhóm OM,... Những giống lúa này không chỉ đáp ứng yêu cầu về năng suất mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần củng cố vị thế của gạo ĐBSCL trên thị trường trong nước và quốc tế.

Về thủy sản, ĐBSCL có diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km2, chiếm 37% tổng diện tích vùng đặc quyền kinh tế của cả nước và hàng trăm đảo lớn nhỏ thuộc hai ngư trường trọng điểm là đông và tây Nam bộ, vùng có khoảng 400.000ha mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng hằng năm lên đến hơn 1,5 triệu tấn, chiếm hơn 70% sản lượng thủy sản nuôi của cả nước. Sản lượng khai thác của vùng ĐBSCL đạt khoảng 850.000 tấn, bằng khoảng 40% tổng sản lượng khai thác cả nước, trong đó trên 80% khai thác từ biển. Vùng chiếm 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 60% sản lượng cá xuất khẩu. Trong liên tiếp hai năm 2018, 2019, kim ngạch xuất khẩu của riêng con cá tra đều đạt trên mốc 2 tỉ USD, chiếm đến gần 1/4 kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản. Riêng tỉnh Cà Mau đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản gần 580 triệu USD[2]. Ngành thủy sản có nhiều mô hình hay của một số tỉnh ĐBSCL, ví dụ như tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau:

- Mô hình ứng dụng công nghệ trong nuôi tôm nước lợ:Trên tôm sú thực hiện các mô hình nuôi tôm sú quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh, nuôi tôm sú bán thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nuôi tôm sú theo hướng VietGAP... Các mô hình triển khai thực hiện đều sử dụng men vi sinh để xử lý ao, cải tạo môi trường, hỗ trợ tiêu hóa và sức kháng bệnh cho tôm. Hạn chế sử dụng kháng sinh trong quá trình nuôi. Hiệu quả kinh tế tăng từ 20 - 70% so với nuôi đại trà, sản phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng điều kiện xuất khẩu.

- Mô hình nuôi tôm sú bán thâm canh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm: Giúp tôm đạt tỉ lệ sống đạt 60%, trọng lượng bình quân 25g/con, năng suất 2,5 tấn/ha, lợi nhuận 240 triệu đồng/ha. Hộ tham gia ghi chép nhật ký đầy đủ làm cơ sở để truy xuất được nguồn gốc sản phẩm.

         - Mô hình ứng dụng công nghệ mới trong nuôi cá các loại

         + Mô hình nuôi cá vược (cá chẽm) trong ao: Cá đạt trọng lượng trung bình 800 gr/con, tỷ lệ sống đạt 70%, hệ số chuyển hóa thức ăn là 1,2. Năng suất khoảng 7 - 9 tấn/ha, lợi nhuận trên 200 triệu đồng/ha[3]. Mô hình mở ra hướng mới về đa dạng hóa đối tượng nuôi thâm canh thủy sản, đặc biệt là trong tình hình dịch bệnh tôm hiện nay thì cá chẽm là trong những đối tượng dễ nuôi, có thể thả nuôi trong ao tôm công nghiệp đã nhiễm bệnh hoặc ao bỏ trống. Sử dụng thức ăn công nghiệp dạng nổi và các chế phẩm sinh học nên tiết kiệm được công lao động và có thể quản lý tốt thức ăn, giảm được ô nhiễm môi trường so với cho ăn bằng cá tạp.

       + Mô hình nuôi cá tra thâm canh bậc 1 với đặc điểm nổi bật là thịt cá trắng đã chứng minh được hiệu quả vượt trội về cả mặt kinh tế lẫn môi trường. Trong mô hình này, lượng thức ăn sử dụng được tối ưu hóa, giúp giảm thiểu chi phí mà vẫn đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho cá phát triển khỏe mạnh. Đặc biệt, mô hình hoàn toàn không sử dụng các loại kháng sinh cấm, thay vào đó chỉ áp dụng các chế phẩm sinh học để duy trì và cải thiện chất lượng môi trường nuôi. Nhờ vậy, môi trường nước luôn ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho cá tra tăng trọng nhanh chóng và hiệu quả. Trọng lượng trung bình của cá trong mô hình đạt khoảng 1 kg/con, tỉ lệ cá sống cao, lên tới 88%, cho thấy sức khỏe và khả năng thích nghi rất tốt của cá trong điều kiện nuôi thâm canh. Năng suất nuôi đạt mức ấn tượng, khoảng 88 tấn trên mỗi hecta diện tích ao nuôi. Về mặt kinh tế, mô hình đem lại lợi nhuận đáng kể, ước tính đạt khoảng 150 triệu đồng trên mỗi hecta, góp phần cải thiện thu nhập và đời sống cho người nuôi. Ngoài lợi ích kinh tế, mô hình nuôi cá tra thâm canh bậc 1 còn được người dân đánh giá cao bởi khả năng hạn chế ô nhiễm môi trường, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản. Do đó, việc nhân rộng mô hình này là cần thiết và phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp hiện đại, thân thiện với môi trường trong tương lai.

         - Mô hình ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất giống: Hàng năm, cơ sở sản xuất giống chính quy của tỉnh (Trung tâm giống) sản xuất khoảng 25,9 triệu con giống thủy sản: Tôm sú, tôm thẻ, tôm càng xanh toàn đực, cua biển, cá tra. Quy trình sản xuất giống áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới và các chế phẩm sinh học (men vi sinh, tảo…) đã góp phần làm tăng tỷ lệ sống trên tôm, tăng tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở trên cá, giúp con giống đạt tiêu chuẩn, chất lượng đúng quy định, hạn chế thiệt hại cho người nuôi,vv.... Như vậy cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nuôi trồng và chế biến xuất khẩu thủy sản, chế biến và tiêu thụ nội địa cũng là thế mạnh của ĐBSCL. Nơi đây chính là “vựa cá” lớn nhất cung cấp sản phẩm thủy sản cho TP. Hồ Chí Minh, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.

Mặt hàng các loại trái cây, Đồng bằng sông Cửu Long có hơn 34% diện tích vườn cây ăn trái của cả nước. Sản lượng trái cây của ĐBSCL hiện khoảng 4,3 triệu tấn, chiếm 60% sản lượng của cả nước. Gần 70% lượng trái cây xuất khẩu của VN đến từ nhà vườn của ĐBSCL; là vùng đất sông nước trù phú này bao nhiêu năm qua vẫn luôn được xem là cánh chim đầu đàn giúp thay đổi sâu sắc diện mạo trái cây trên toàn bản đồ hình chữ S; nổi tiếng với nhiều loại trái cây đặc sản như nhãn, xoài, sầu riêng, măng cụt,với sản lượng 3,3 triệu tấn/ năm (năm 2006). Tổng diện tích vuờn cây ăn trái toàn vùng ĐBSCL xấp xỉ 300.000 ha, trong đó có khoảng 120.000 ha trồng các loại cây đặc sản như xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Lò Rèn, sầu riêng, bưởi da xanh, bưởi Năm Roi[4]… tập trung nhiều ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Hậu Giang…

Ngành chăn nuôi gà sử dụng đệm lót sinh học, gà đạt tỷ lệ sống khoảng 90%, trọng lượng trung bình 1,7 - 2 kg/con sau 04 tháng nuôi, đệm lót sinh học hoạt động tốt giúp hạn chế được sự phát triển của vi sinh vật có hại đặc biệt là bệnh cầu trùng nên gà không mắc bệnh, tăng trọng nhanh. Ngoài ra, khi sử dụng đệm lót không có mùi hôi, đỡ công dọn chuồng, không gây ô nhiễm môi trường và đảm bảo sức khỏe cho người nuôi nên có thể nuôi gà với số lượng lớn. Mô hình ứng dụng công nghệ mới trong chăn nuôi bò. Chương trình cải tạo giống bò theo hướng chuyên thịt bằng phương pháp gieo tinh nhân tạo (GTNT) để nâng cao tầm vóc đàn bò, đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao và tăng thêm thu nhập cho nông dân, giúp đàm bê sinh ra có trọng lượng lớn và tỉ lệ thịt xẻ tăng cao so với các giống bò ta như: Trọng lượng bê sơ sinh đạt 23 – 25 kg/con cao hơn bê nuôi tại địa phương 5 – 7 kg/con, tỷ lệ bê nuôi sống đến 6 tháng tuổi đạt 98%, bò 1 năm tuổi có trọng lượng từ 160 – 180 kg/con giá bán 18 – 25 triệu đồng/con, cao hơn bò địa phương 70 - 80 kg/con, [6] v.v..

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu được thì vùng cũng tồn tại một số hạn chế và thách thức: là vùng đất mẫn cảm với thay đổi của tự nhiên: biến đổi khí hậu và nước biển dâng diễn ra nhanh hơn dự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân; Lối mòn tư duy làm nông nghiệp truyền thống, chạy theo số lượng, coi nhẹ chất lượng, quên giá trị như đang bị nhân lên, trở thành những tác động tiêu cực tích lũy trước sức ép cạnh tranh - hội nhập - BĐKH. Chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản còn thấp; giá cả nông sản bấp bênh được mùa thì mất giá, do đầu ra phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái; hệ thống đào tạo nghề cho nông dân còn hạn chế. Phương pháp đào tạo chủ yếu là chủ yếu là lý thuyết kết hợp với tham quan thực tế mà chưa tập trung theo phương pháp dạy thực hành về kỹ năng mềm cho nông dân để thích ứng phát huy trong môi trường công nghệ hiện đại. Những hạn chế trên đã và đang gây khó khăn cho việc chuyển giao khoa học công nghệ tiến bộ vào trong sản xuất nông nghiệp và chế biến thành phẩm nông nghiệp vì mục tiêu cải thiện đời sống cho nông dân; Chuỗi liên kết khép kín từ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm của vùng còn hạn chế. Nguyên nhân là sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn chậm nên chất lượng sản phẩm không cao, khi đưa vào thị trường chủ yếu vẫn ở dạng thô, thiếu khả năng tạo bước đột phá trong nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm. Việc gắn kết sản xuất với thị trường tiêu thụ có được tăng cường nhưng từng lúc thiếu chặt chẽ; Tổ chức lại sản xuất chưa đạt yêu cầu, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác chưa được đầu tư đồng bộ; chất lượng, hiệu quả hoạt động còn nhiều mặt yếu kém; công tác huy động các nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế.

Thu nhập của người lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn còn thấp và chịu nhiều rủi ro, thua thiệt so với lao động ở các khu vực kinh tế khác, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao; an ninh chính trị, trật tự xã hội vùng nông thôn từng lúc, từng nơi diễn biến phức tạp; nhiều vấn đề xã hội bức xúc vẫn chưa được giải quyết tốt,……đang đặt ra cho vùng những thách thức to lớn. Điều đáng nói, các tầng thách thức không tác động riêng lẻ mà tạo ra “thế gọng kìm”, mang tính tích lũy, liên hoàn dẫn đến nhiều hệ lụy cho phát triển vùng; việc huy động, sử dụng nguồn lực cho đầu tư phát triển còn hạn chế; mặt bằng học vấn và tỷ lệ ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến của vùng thấp hơn mức bình quân chung của cả nước; chất lượng giáo dục, y tế vẫn còn thấp so với yêu cầu; nhân lực chất lượng cao đang có xu hướng dịch chuyển sang các địa phương khác.v.v….

Để vượt qua những thách thức đã đề cập, đồng thời tận dụng tối đa các lợi thế nổi bật của vùng, nơi có vị trí và vai trò trọng yếu trong sự phát triển chung của đất nước, đặc biệt là khu vực phía Nam, cần tập trung phát triển mạnh mẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc này không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn đảm bảo cuộc sống ổn định cho người dân, từng bước nâng cao chất lượng đời sống. Bên cạnh đó, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, làm giàu cho nông dân và xây dựng nông thôn hiện đại cũng là mục tiêu trọng tâm, giúp vùng này tiếp tục giữ vai trò đầu tàu trong tiến trình phát triển của cả nước thì theo tôi cần phải thực hiện những giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch sản xuất nông – lâm nghiệp tổng thể theo vùng, tăng cường vai trò điều phối và giám sát của Hội Nông dân.

 Tiếp tục triển khai xây dựng và hoàn thiện quy hoạch sản xuất tổng thể trên phạm vi từng tỉnh, trong đó vai trò của Hội Nông dân cần được khẳng định rõ ràng với trách nhiệm trọng yếu trong việc điều hành, giám sát quá trình thực hiện các kế hoạch sản xuất. Cụ thể, cần thành lập một cơ quan nghiên cứu và tổng hợp chuyên sâu, có năng lực đủ mạnh để theo dõi, dự báo nhu cầu cũng như biến động giá cả các sản phẩm nông, lâm nghiệp cả trong tỉnh và trên thị trường ngoài tỉnh theo từng thời điểm cụ thể. Những thông tin này phải được cập nhật thường xuyên, chính xác và kịp thời, từ đó thông báo rộng rãi đến từng hộ nông dân nhằm giúp họ chủ động trong việc điều chỉnh kế hoạch sản xuất phù hợp với thực tiễn thị trường. Song song với đó, việc xây dựng quy hoạch tổng thể quy mô về sản xuất các loại hàng nông, lâm sản cần căn cứ vào các yếu tố tự nhiên như điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu,... để xác định rõ ràng từng loại cây trồng, vật nuôi phù hợp cho từng khu vực. Quy hoạch phải chỉ rõ quy mô, số lượng, diện tích sản xuất cụ thể của từng loại hàng hóa, đảm bảo tính khả thi và phát huy tối đa tiềm năng vùng đất. Đặc biệt, với những cây trồng chủ lực và có thế mạnh như lúa, cà phê, cần quy định chi tiết đến từng cánh đồng của từng xã nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sản xuất. Mọi thông tin quy hoạch, dự báo phải được công khai minh bạch, đầy đủ tới các cơ quan chức năng của từng địa phương và đặc biệt là đến tận tay người dân. Việc này không chỉ tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan mà còn giúp người nông dân hiểu rõ, nắm bắt kịp thời, từ đó chủ động tham gia sản xuất đúng hướng, góp phần nâng cao giá trị và hiệu quả của ngành nông nghiệp trên địa bàn.

 Thứ hai, chuyển đổi mô hình phát triển bền vững, quy hoạch tổng thể vùng thích ứng biến đổi khí hậu.

Có chiến lược ứng phó dài hạn, sự tiếp cận đa ngành và phối hợp giải quyết liên ngành. Việc Chính phủ xác định “Chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng BĐKH” cần được xem là cách tiếp cận mới, giải pháp hay tốt; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của vùng làm cơ sở điều chỉnh quy hoạch từng địa phương, ngành, sản phẩm chủ yếu; thống nhất giữa quy hoạch vùng với quy hoạch theo địa giới hành chính từng địa phương trên cơ sở phát huy lợi thế của từng tiểu vùng, từng tỉnh; quản lý xây dựng theo quy hoạch. Xây dựng cơ chế, chính sách và mô hình quản lý để điều phối, thống nhất chỉ đạo có hiệu quả quy hoạch của vùng và từng địa phương. Huy động tối đa để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cả đầu tư trong nước và nước ngoài. 

Thứ ba, cần đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông, logistics, nông nghiệp gắn với tái cơ cấu kinh tế vùng

Việc bố trí không gian và nguồn lực phát triển vùng trong quy hoạch cần ưu tiên ba lĩnh vực: Phát triển hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng nông nghiệp. Các đột phá này phải được ưu tiên trước để tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững cho cả thời kỳ quy hoạch; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đẩy nhanh tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; trong đó, đẩy mạnh, đẩy nhanh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Từng bước phát triển hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng trọng điểm có tính liên vùng; Ưu tiên nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thực hiện liên kết chuỗi giá trị, chú trọng tạo dựng thương hiệu địa phương; Phát huy vai trò kinh tế tư nhân, tích tụ ruộng đất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp; Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; Đẩy mạnh phát triển dịch vụ, du lịch, phát triển công nghiệp theo hướng chú trọng năng lượng sạch. 

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ lao động kỹ thuật, công nhân, trí thức, doanh nhân, cán bộ quản lý. 

Cần quan tâm đến công tác xây dựng đội ngủ nông dân chuyên nghiệp. Để trở thành đội ngũ chuyên nghiệp, nông dân có trình độ, kỹ năng, tư duy nhất định. Mục tiêu này có thể được thực hiện thông qua định hướng phân bố lại lao động nông thôn bằng các chương trình đào tạo nghề, xúc tiến việc làm, hợp tác lao động trong và ngoài nước,…nhưng hơn hết, việc xây dựng đội ngũ nông dân chuyên nghiệp rất cần có môi trường hoạt động chuyên nghiệp do nhà nước khởi xướng và hỗ trợ, mà mô hình “liên kết bốn nhà” là một trong những cách thức để khởi tạo môi trường hoạt động chuyên nghiệp.

Thứ năm, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức phát triển vùng 

Để thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển nhanh và bền vững của vùng, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và quán triệt nghị quyết của Đảng là vô cùng cần thiết. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức một cách sâu sắc về tính cấp bách và vai trò trọng yếu của nhiệm vụ phát triển vùng, từ đó nâng cao trách nhiệm và quyết tâm trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đây không chỉ là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trị mà còn là trách nhiệm trực tiếp của từng địa phương, nơi mà các kế hoạch phát triển được cụ thể hóa và thực hiện trên thực tế. Bên cạnh đó, việc kiện toàn, hoàn thiện hệ thống chính trị các cấp là một bước đi chiến lược nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Việc này bao gồm cả việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức, vừa đảm bảo về số lượng, vừa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng. Một chính quyền trong sạch, vững mạnh không chỉ là mục tiêu mà còn là nền tảng để thúc đẩy các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Cải cách hành chính cần được tiến hành một cách đồng bộ, mạnh mẽ, gắn liền với việc phân cấp rõ ràng và phù hợp cho các địa phương nhằm tăng cường tính chủ động và sáng tạo trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành. Việc phân cấp này không chỉ giúp giảm bớt sự quan liêu, hành chính hóa mà còn phát huy tối đa tiềm năng và thế mạnh của từng địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các dự án, chương trình phát triển mang lại hiệu quả thiết thực. Qua đó, vùng phát huy tốt hơn vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế quốc gia, đồng thời góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững trong tương lai.

Thứ sáu, thúc đẩy doanh nghiệp và liên kết vùng thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển bền vững

Thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp triển khai các dự án trong vùng và liên vùng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Cần tiếp tục đẩy mạnh liên kết vùng tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phát huy tiềm năng, lợi thế của nhau, nhờ đó bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững. Điều kiện địa lý, tự nhiên và quá trình hình thành, phát triển của mỗi vùng là khác nhau nên mỗi vùng sẽ có tiềm năng, lợi thế khác nhau. Có vùng giàu tiềm năng về nuôi trồng thuỷ sản, nhưng không mạnh về công nghiệp chế biến hoặc ngược lại. Nếu chỉ khép kín các chương trình, kế hoạch, định hướng phát triển của từng địa phương trong nội vùng sẽ dễ làm cho vùng bị tụt hậu. Thực tiễn của thế giới năng động, hội nhập hiện nay cho thấy, không một vùng hay quốc gia nào tự mình khép kín mà có thể phát triển nhanh và bền vững được.      

Liên kết vùng giúp tiết kiệm nguồn lực đầu tư chung của xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Từng địa phương sản xuất riêng lẻ, thiếu liên kết sẽ làm phân tán, lãng phí nguồn lực, dẫn đến tình trạng tốn kém chi phí đầu tư cho xã hội. Tình trạng đầu tư dàn trải, trùng lắp, không sử dụng hết công suất thiết kế của các nhà máy, cạnh tranh gây bất lợi cho nhau, thông qua việc phát triển ồ ạt các khu công nghiệp ở nhiều địa phương lân cận nhau ở nước ta thời gian qua là một minh chứng cho tình trạng yếu kém trong liên kết vùng. Hạn chế tình trạng di dân, giảm gánh nặng xã hội cho các đô thị lớn, tạo sự phát triển hài hòa giữa các vùng, miền trong nước. Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền trong một quốc gia thường tạo ra dòng người di chuyển từ nông thôn đến các đô thị để tìm kiếm việc làm, học tập, hưởng thụ văn hoá, thay đổi cuộc sống. Thực tế này đã và đang diễn ra, tạo không ít hệ lụy về kinh tế, xã hội, an ninh, trật tự cho nhiều thành phố lớn. Những biến động này cũng làm xuất hiện nguy cơ suy giảm nguồn nhân lực, giảm tiềm lực kinh tế, giảm thu nhập ở các vùng nông thôn. Thực hiện liên kết vùng là một trong những giải pháp quan trọng để góp phần hạ Sự liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Thứ bảy, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng và huy động đa dạng nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế vùng

Các địa phương trong vùng chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn vốn đầu tư nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thu hút đầu tư các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong  nước và nước ngoài để đảm bảo huy động cao nhất các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Phát triển đồng bộ các loại thị trường, nhằm thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Nghiên cứu sắp xếp, bố trí hợp lý dân cư trong vùng gắn với các vùng khác để giải quyết việc làm, giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp. ĐBSCL phải thay đổi mô hình phát triển theo hướng tập trung hơn; phát triển các trung tâm kinh tế, các đô thị động lực, tập trung nguồn lực cho sự phát triển bền vững vùng. Đầu tư là giải pháp quan trọng trong giai đoạn đầu của quy hoạch vùng, nên cần tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu, tạo ra các trục xương sống cho phát triển; Tập trung nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ và phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu. Chủ động triển khai một số mô hình kinh tế phù hợp với tự nhiên, ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu như mô hình nuôi tôm bền vững; chọn lai tạo, phát triển các giống cây trồng, vật nuôi và giống thủy sản có tiềm năng, lợi thế của vùng; nâng cao chất lượng giống; mô hình “Sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu”. 

Tóm lại,  Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm về nông nghiệp của Việt Nam, đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản. Để phát triển nông nghiệp bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về quy hoạch sản xuất, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, phát triển hạ tầng và ứng dụng công nghệ. Việc sử dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi, gieo tinh nhân tạo cải tạo giống bò, nuôi trồng thủy sản có quản lý kỹ thuật cao, kết hợp với nâng cao nhận thức, giáo dục nông dân và tăng cường vai trò của Hội Nông dân sẽ giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và lợi nhuận. Đồng thời, huy động hiệu quả các nguồn lực, đầu tư hạ tầng, liên kết vùng và ứng phó biến đổi khí hậu là những yếu tố then chốt để đảm bảo phát triển nhanh, ổn định và bền vững. Những giải pháp này cần được triển khai linh hoạt, sát thực tiễn và có tính liên ngành để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế vùng ĐBSCL, đồng thời bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nông dân.

Tài liệu tham khảo

[1] Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Báo cáo số 555/BC-CP, ngày19/10/2020 về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 và 5 năm 2016-2020; dự kiến kế hoạch năm 2021 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2021-2025, H, 2020.

[2]https://wisdom.eoc.dlr.de/vn/content/dong-bang-song-cuu-long-viet-nam.html

[3] Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001-2010.

[4] Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Báo cáo số 99/BC-CP, ngày 23/3/2021 về Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2016 - 2021của Chính phủ, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá XIV, H, 2021.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021

[6] Bùi Hữu Đoàn (2010). Đánh giá khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà lai F1. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 

[1] https://wisdom.eoc.dlr.de/vn/content/dong-bang-song-cuu-long-viet-nam.html

[2] https://vov.vn/xa-hoi/dam-bao-100-vung-nuoi-trong-thuy-san-duoc-kiem-soat-ve-moi-truong-post1138794.vov

[3] https://nongnghiepmoitruong.vn/nuoi-luan-canh-tom-su-va-ca-vuoc-o-thai-binh-d5372.html

[4] https://tintucmientay.baoangiang.com.vn/on-dinh-san-xuat-cay-an-trai-a288395.html?utm_source=chatgpt.com