ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG CHÍNH TRỊ PHẠM HÙNG TỈNH VĨNH LONG ĐÁP ỨNG TIÊU CHÍ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHUẨN
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TRƯỜNG CHÍNH TRỊ PHẠM HÙNG TỈNH VĨNH LONG ĐÁP ỨNG TIÊU CHÍ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CHUẨN
ThS. Dương Quốc Hoàng - Phó Hiệu trưởng, Trường Chính trị Phạm Hùng
Tóm tắt:Nghiên cứu khoa học là một trong những trụ cột quan trọng trong hoạt động của các trường chính trị cấp tỉnh. Thực tiễn cho thấy, hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới từ Quy định số 396-QĐ/TW, ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn và các định hướng mới trong Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG, ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành bộ quy chế về công tác trường chính trị, hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường chính trị cấp tỉnh nói chung và Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long nói riêng cần tiếp tục được đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả và có trọng tâm, nhằm đáp ứng tiêu chí trường chính trị chuẩn trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Đổi mới; nghiên cứu khoa học; Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long; Trường chính trị chuẩn.
1. Đặt vấn đề
Nghiên cứu khoa học là một trong những trụ cột quan trọng trong hoạt động của các trường chính trị cấp tỉnh, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đồng thời phục vụ tổng kết thực tiễn và tham mưu chính sách cho địa phương. Trong bối cảnh hiện nay, khi yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ ngày càng cao, cả về trình độ lý luận, năng lực thực tiễn và khả năng thích ứng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hoạt động nghiên cứu khoa học càng trở nên cần thiết và có ý nghĩa thiết thực hơn.
Đối với Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long, sau quá trình hợp nhất, nhà trường vừa kế thừa nền tảng truyền thống, vừa đứng trước yêu cầu phải đổi mới toàn diện để đáp ứng tiêu chí trường chính trị chuẩn. Trong đó, đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học là một nội dung quan trọng, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, gắn đào tạo với thực tiễn và từng bước khẳng định vai trò của nhà trường trong hệ thống chính trị của tỉnh.
Bên cạnh đó, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng với những định hướng mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học theo hướng thiết thực, hiệu quả, gắn với nhu cầu phát triển của địa phương.
2. Thực trạng nghiên cứu khoa học tại Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long
Trong thời gian qua, đặc biệt sau khi hợp nhất, hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long đã từng bước đi vào nền nếp, duy trì được tính ổn định và có những chuyển biến tích cực. Nhà trường đã chủ động xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học hằng năm, tổ chức triển khai tương đối đồng bộ các nhiệm vụ như đề tài khoa học, hội thảo, tọa đàm khoa học, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và bước đầu thực hiện chức năng tổng kết thực tiễn.
Theo báo cáo tổng hợp, số 22-BC/TCT ngày 28 tháng 11 năm 2025, hoạt động nghiên cứu khoa học năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 của Trường Chính trị Phạm Hùng sau hợp nhất. Cụ thể, trong năm 2025, nhà trường đã thực hiện 18 đề tài khoa học các cấp (cấp bộ, cấp tỉnh, cấp trường và cấp khoa), đến năm 2026 số lượng này là 14 đề tài, phản ánh sự điều chỉnh theo kế hoạch nhưng vẫn bảo đảm duy trì hoạt động nghiên cứu thường xuyên. Đối với hội thảo khoa học, tọa đàm (cấp bộ, cấp tỉnh, cấp trường và cấp khoa), năm 2025 tổ chức 12 hội thảo, tọa đàm, sang năm 2026 là 10 cuộc hội thảo, tọa đàm tiếp tục khẳng định vai trò của các diễn đàn học thuật trong trao đổi chuyên môn và tổng kết thực tiễn. Đáng chú ý, xuất bản sách chuyên khảo 04 quyển, biên soạn Tập bài giảng Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển tỉnh Vĩnh Long và xuất bản bản tin “Thông tin lý luận và thực tiễn” từ 2 kỳ/năm (sau hợp nhất) lên 3 kỳ/năm, cho thấy sự quan tâm trong việc đa dạng hóa sản phẩm khoa học và tăng cường phổ biến kết quả nghiên cứu. Các kết quả trên được triển khai theo kế hoạch nhiệm vụ nghiên cứu khoa học hằng năm của nhà trường, góp phần từng bước nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học sau hợp nhất.
Bên cạnh những kết quả đạt được, cần nhìn nhận một cách khách quan rằng hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường vẫn còn tồn tại một số hạn chế:
Trước hết, việc xác định định hướng nghiên cứu khoa học trong một số trường hợp chưa thật sự rõ nét, còn mang tính phân tán, chưa tập trung vào những vấn đề trọng tâm, cần thiết của địa phương. Việc lựa chọn đề tài trong một số trường hợp còn mang tính tự phát, chưa xuất phát đầy đủ từ yêu cầu thực tiễn của địa phương hoặc từ những vấn đề lớn đặt ra trong công tác lãnh đạo, quản lý.
Thứ hai, chất lượng và giá trị ứng dụng của một số công trình nghiên cứu chưa cao. Nhiều đề tài dừng lại ở mức độ mô tả thực trạng, thiếu chiều sâu phân tích, chưa đề xuất được các giải pháp có tính khả thi cao hoặc chưa được chuyển hóa thành các kiến nghị chính sách cụ thể.
Thứ ba, hoạt động công bố khoa học còn hạn chế, đặc biệt là trên các tạp chí khoa học có uy tín. Việc thiếu vắng các công bố khoa học có chất lượng không chỉ ảnh hưởng đến việc lan tỏa kết quả nghiên cứu, mà còn tác động đến việc nâng cao vị thế nghiên cứu khoa học của nhà trường.
Thứ tư, năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên chưa đồng đều. Một bộ phận giảng viên còn hạn chế về phương pháp nghiên cứu, kỹ năng viết bài khoa học và khả năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu hiện đại. Đặc biệt, khả năng tiếp cận các phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp định lượng, cũng như năng lực phân tích chính sách còn chưa được phát huy đầy đủ. Đây là rào cản lớn trong việc nâng cao chất lượng và chiều sâu của các công trình nghiên cứu.
Thứ năm, việc ứng dụng công nghệ số trong hoạt động nghiên cứu khoa học còn ở mức độ bước đầu, chưa hình thành được hệ thống dữ liệu phục vụ nghiên cứu một cách bài bản.
Những hạn chế trên đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, căn cơ và lâu dài nhằm nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường. Các hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan như: Nhận thức về vai trò của nghiên cứu khoa học ở một số thời điểm chưa đầy đủ; cơ chế quản lý nghiên cứu khoa học chưa thật sự đổi mới; nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn hạn chế; sự phối hợp giữa nhà trường và các cơ quan trong hệ thống chính trị chưa chặt chẽ; năng lực số và kỹ năng nghiên cứu của đội ngũ giảng viên chưa được bồi dưỡng thường xuyên, bài bản.
3. Yêu cầu mới đặt ra đối với cụ thể hóa hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long theo Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành bộ quy chế về công tác trường chính trị
Theo Quy định 396-QĐ/TW, ngày 05 tháng 01 năm 2026 của Ban Bí thư về về trường chính trị chuẩn. Trường chính trị chuẩn là trường chính trị đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định và được cấp có thẩm quyền công nhận. Các tiêu chí là căn cứ để đánh giá đạt mức độ chuẩn trong từng lĩnh vực và nội dung hoạt động của nhà trường.
Đối với tiêu chí trường chính trị chuẩn mức 1, trong hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, yêu cầu đặt ra là: Mỗi năm thực hiện được ít nhất 3 nhiệm vụ khoa học là đề tài cấp trường, 5 năm thực hiện được ít nhất 3 nhiệm vụ khoa học là đề tài cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, được nghiệm thu ở mức đạt trở lên. Đối với trường có trên 70 cán bộ, viên chức, trong 5 năm thực hiện ít nhất 5 nhiệm vụ khoa học là đề tài khoa học cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên; mỗi năm tổ chức được ít nhất 3 nhiệm vụ khoa học là hội thảo hoặc toạ đàm khoa học cấp trường, 5 năm tổ chức được ít nhất 3 nhiệm vụ khoa học là hội thảo hoặc tọa đàm khoa học cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên.
Kết quả nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn của trường được chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật; 100% nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh trở lên có báo cáo kiến nghị, đề xuất tỉnh uỷ, các cơ quan Trung ương có liên quan; có ít nhất 1 báo cáo kiến nghị, tư vấn chính sách cho tỉnh uỷ, cơ quan Trung ương được sử dụng; trong 5 năm, xuất bản được ít nhất 5 cuốn sách chuyên khảo, tham khảo hoặc kỷ yếu hội thảo khoa học phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn; xuất bản được tạp chí hoặc bản tin “Thông tin lý luận và thực tiễn” ít nhất 3 kỳ/năm (bản in hoặc điện tử). Tạp chí hoặc bản tin bảo đảm nội dung, đúng quy định luật xuất bản.
Đồng thời, nhà trường cần xây dựng và vận hành hiệu quả trang thông tin điện tử của trường bảo đảm chất lượng thông tin, được cập nhật thường xuyên và kết nối liên thông với cổng thông tin điện tử của tỉnh uỷ và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; trong 5 năm, mỗi giảng viên cao cấp có ít nhất 3 bài báo khoa học, mỗi giảng viên chính có ít nhất 2 bài báo khoa học, mỗi giảng viên có ít nhất 1 bài báo khoa học đăng trên bản tin, tạp chí trong nước, tạp chí có mã số ISSN hoặc tạp chí nước ngoài.
Đối với chuẩn mức 2, hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn yêu cầu được nâng cao hơn: Thực hiện ít nhất 5 nhiệm vụ khoa học là đề tài cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, được nghiệm thu ở mức đạt trở lên (đối với trường có trên 70 cán bộ, viên chức thực hiện ít nhất 6 nhiệm vụ khoa học là đề tài cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên); thực hiện ít nhất 1 cuộc hội thảo khoa học cấp bộ trở lên; có ít nhất 2 báo cáo kiến nghị, tư vấn chính sách cho tỉnh uỷ, cơ quan Trung ương được sử dụng; xuất bản được tạp chí hoặc bản tin “Thông tin lý luận và thực tiễn” ít nhất 4 kỳ/năm (bản in hoặc điện tử); trang thông tin điện tử của trường tích hợp cơ sở dữ liệu nghiên cứu, tài liệu học tập, thư viện điện tử; kết nối liên thông với các cơ quan, đơn vị trong nước và các trường chính trị khác; trong 5 năm, mỗi giảng viên cao cấp có ít nhất 4 bài báo khoa học, mỗi giảng viên chính có ít nhất 3 bài báo khoa học, mỗi giảng viên có ít nhất 2 bài báo khoa học đăng trên bản tin, tạp chí trong nước, tạp chí có mã số ISSN hoặc tạp chí nước ngoài.
Trên cơ sở các Quy định của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Vĩnh Long như: Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG, ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành bộ quy chế về công tác trường chính trị; Quy định số 815-QĐ/TU, ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long; Thông tư số 36/2025/TT-BKHCN, ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ: Quy định khung về trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định, ban hành, quản lý, tổ chức thực hiện chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và quy định về trình tự, thủ tục xét tài trợ, đặt hàng, ký hợp đồng, tổ chức thực hiện, chấm dứt thực hiện, thanh lý hợp đồng giao nhiệm vụ và đánh giá đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở các quy định mới của Ban Bí thư và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long cần được cụ thể hóa theo hướng:
Thứ nhất, bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ trong tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học. Hoạt động nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở việc triển khai các nhiệm vụ riêng lẻ, mà cần xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học tổng thể, gắn với chiến lược phát triển của nhà trường và nhu cầu thực tiễn của địa phương.
Thứ hai, nâng cao vai trò của Hội đồng khoa học trong định hướng và thẩm định. Hội đồng khoa học cần thực sự trở thành cơ quan tư vấn chiến lược, có vai trò định hướng nghiên cứu, lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời nâng cao chất lượng thẩm định, nghiệm thu các đề tài.
Thứ ba, tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với đào tạo, bồi dưỡng và tổng kết thực tiễn. Nghiên cứu khoa học phải phục vụ trực tiếp cho giảng dạy, đồng thời góp phần cập nhật, bổ sung nội dung chương trình đào tạo, bảo đảm tính thời sự và thực tiễn.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Từ việc thu thập dữ liệu, xử lý thông tin đến công bố kết quả nghiên cứu cần từng bước được số hóa, tạo nền tảng cho việc phát triển nghiên cứu khoa học hiện đại.
4. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học của Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long
Trong năm 2026, để cụ thể hóa các yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn và khắc phục những hạn chế trong hoạt động nghiên cứu khoa học, Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long cần tập trung triển khai đồng bộ một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và định hướng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học. Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh và định hướng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về công tác đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học.
Tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học năm 2026 gắn với yêu cầu xây dựng trường chính trị chuẩn. Chủ động triển khai 03 đề tài khoa học cấp tỉnh đã đăng ký theo hướng lựa chọn đúng các vấn đề trọng tâm, cấp thiết của địa phương. Đối với các đề tài khoa học cấp trường (cơ sở), triển khai thực hiện 11 đề tài. Cùng với đó, tổ chức 04 Hội thảo cấp tỉnh; 06 Hội thảo cấp cơ sở; hoàn thiện Tập bài giảng Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển tỉnh Vĩnh Long phục vụ giảng dạy và phát triển các sản phẩm khoa học phục vụ đào tạo. Bên cạnh đó, đẩy mạnh tăng cường công bố và phổ biến kết quả nghiên cứu thông qua xuất bản bản tin “Thông tin lý luận và thực tiễn” 3 kỳ/năm, in kỷ yếu Hội thảo khoa học và xuất bản 03 quyển sách. Đây là giải pháp quan trọng nhằm lan tỏa tri thức, nâng cao vị thế học thuật của nhà trường và đáp ứng các tiêu chí về sản phẩm khoa học trong xây dựng trường chính trị chuẩn.
Hai là, phát huy vai trò chủ thể và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên là lực lượng trực tiếp thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, do đó cần xác định rõ vai trò chủ thể, đồng thời nâng cao nhận thức, động cơ và năng lực nghiên cứu. Trước hết, mỗi giảng viên cần nhận thức đúng đắn rằng nghiên cứu khoa học không chỉ là nhiệm vụ mà còn là con đường tất yếu để nâng cao chất lượng giảng dạy. Giảng viên cần đổi mới tư duy, phương pháp nghiên cứu theo hướng khoa học, hiện đại; chủ động tiếp cận các phương pháp nghiên cứu mới; nâng cao năng lực phân tích, tổng hợp và đề xuất giải pháp. Đồng thời, cần phát huy tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm, niềm đam mê nghiên cứu; chủ động tổng kết thực tiễn và mạnh dạn đề xuất sáng kiến gắn với lĩnh vực chuyên môn và thực tiễn địa phương.
Việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng viên cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài. Nhà trường cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cụ thể, trong đó chú trọng: Bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học; kỹ năng viết bài khoa học; kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách; ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các học viện khu vực, các trường đại học và viện nghiên cứu để trao đổi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp nghiên cứu cho giảng viên. Bên cạnh đó, cần có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với các giảng viên có năng lực nghiên cứu tốt, tạo điều kiện để họ phát huy vai trò nòng cốt trong hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường.
Ba là, hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho hoạt động nghiên cứu khoa học
Để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển bền vững, cần xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tạo động lực cả về vật chất và tinh thần cho đội ngũ giảng viên. Trước hết, cần đổi mới công tác đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học theo hướng coi trọng chất lượng, tính ứng dụng và giá trị thực tiễn của công trình, thay vì chỉ chú trọng số lượng. Đồng thời, xây dựng cơ chế khen thưởng, ghi nhận kịp thời đối với các công trình có giá trị, tạo động lực khuyến khích giảng viên tích cực tham gia nghiên cứu. Cùng với đó, cần tăng cường đầu tư kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Nhà trường cần xây dựng kế hoạch tài chính rõ ràng, bảo đảm kinh phí cho các đề tài nghiên cứu, hội thảo khoa học, công bố kết quả nghiên cứu. Bộ phận tài chính cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chuyên môn để bảo đảm việc chi trả kinh phí nhanh chóng, đúng quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác công bố và phổ biến kết quả nghiên cứu thông qua các tạp chí khoa học, hội thảo, bản tin “Thông tin lý luận và thực tiễn” và trang thông tin điện tử của nhà trường, góp phần lan tỏa giá trị khoa học và nâng cao vị thế học thuật của nhà trường.
Bốn là, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học
Công tác kiểm tra, đánh giá cần được thực hiện một cách khoa học, khách quan, minh bạch và gắn với hiệu quả thực tiễn. Nhà trường cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá cụ thể đối với hoạt động nghiên cứu khoa học, trong đó chú trọng: Tính khoa học và tính mới của công trình; giá trị ứng dụng trong thực tiễn; mức độ đóng góp vào giảng dạy và tham mưu chính sách. Đồng thời, cần thành lập các hội đồng đánh giá có sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín, bảo đảm tính khách quan và chất lượng trong đánh giá. Việc gắn kết giữa kết quả nghiên cứu khoa học với công tác thi đua, khen thưởng và đánh giá giảng viên sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học phát triển.
Các giải pháp nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, đòi hỏi phải được triển khai đồng bộ, nhất quán và lâu dài. Trong đó, yếu tố quyết định là sự đổi mới tư duy quản lý, nâng cao nhận thức và phát triển năng lực của đội ngũ giảng viên. Khi hoạt động nghiên cứu khoa học được tổ chức một cách bài bản, gắn chặt với thực tiễn và được hỗ trợ bởi cơ chế phù hợp, thì không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn góp phần trực tiếp vào việc tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và tham mưu chính sách cho địa phương.
Tóm lại, khi nghiên cứu khoa học được đặt đúng vị trí, được tổ chức bài bản, gắn chặt với yêu cầu phát triển của địa phương thì không chỉ tạo ra các sản phẩm khoa học có giá trị, mà còn góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và hiện thực hóa tinh thần đổi mới tư duy lý luận của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, yêu cầu đặt ra không chỉ là “làm nhiều hơn” mà quan trọng hơn là “làm đúng và làm trúng”. Mỗi đề tài nghiên cứu, mỗi hội thảo khoa học, mỗi tọa đàm các cấp cần thực sự trở thành một “điểm tựa tri thức”, một “nguồn lực mềm” phục vụ phát triển địa phương.Với quyết tâm chính trị cao, cùng với việc hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy và nâng cao năng lực đội ngũ, hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Chính trị Phạm Hùng hoàn toàn có thể trở thành một trong những khâu đột phá, góp phần xây dựng nhà trường đạt chuẩn, đồng thời đóng góp thiết thực thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 đề ra./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2. Quy định số 396-QĐ/TW, ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn.
3. Quyết định số 988-QĐ/HVCTQG, ngày 20 tháng 3 năm 2026 của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành bộ quy chế về công tác trường chính trị.
4. Quy định số 815-QĐ/TU, ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Trường Chính trị Phạm Hùng tỉnh Vĩnh Long.
5. Thông tư số 36/2025/TT-BKHCN, ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Quy định khung về trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định, ban hành, quản lý, tổ chức thực hiện chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và quy định về trình tự, thủ tục xét tài trợ, đặt hàng, ký hợp đồng, tổ chức thực hiện, chấm dứt thực hiện, thanh lý hợp đồng giao nhiệm vụ và đánh giá đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
