Nhảy đến nội dung
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG – DẤU MỐC CHIẾN LƯỢC MỞ RA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI, HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG – DẤU MỐC CHIẾN LƯỢC MỞ RA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI, HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

ThS.Hà Quốc Thanh - Phòng Tổ chức, hành chính, thông tin, tư liệu

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường; trong nước, sau gần 40 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đồng thời đứng trước yêu cầu cấp bách phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với chất lượng cao hơn, bền vững hơn và mang tính tự chủ, tự cường sâu sắc hơn. Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại mang tính nhiệm kỳ, mà còn có ý nghĩa như một dấu mốc chiến lược, hoạch định tầm nhìn và con đường phát triển dài hạn của đất nước gắn với các mốc lịch sử quan trọng: 100 năm thành lập Đảng (2030) và 100 năm thành lập nước (2045).

1. Đại hội XIV – đấu mốc của kỷ nguyên mới, “cửa sổ thời cơ” chiến lược của Việt Nam

(Nguồn: https://myduc.hanoi.gov.vn)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những biến động sâu sắc, nhanh chóng và khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, không chỉ về kinh tế, công nghệ mà còn về thể chế, mô hình phát triển và ảnh hưởng địa – chính trị; trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc đang từng bước hình thành, tạo ra những dịch chuyển lớn về quyền lực và cấu trúc quản trị toàn cầu. Cùng với đó, các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng năng lượng, an ninh mạng, già hóa dân số… ngày càng tác động sâu rộng, đan xen, vượt qua biên giới quốc gia, đặt ra yêu cầu mới đối với năng lực thích ứng và tự cường của mỗi quốc gia – dân tộc.

Trong bối cảnh đó, thế giới đang bước vào một giai đoạn chuyển tiếp mang tính bước ngoặt, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất ổn, vừa mở ra những “cửa sổ thời cơ” chiến lược cho các quốc gia có đủ bản lĩnh, tầm nhìn và năng lực quản trị quốc gia hiện đại. Thực tiễn phát triển của nhiều nước cho thấy, những thời điểm lịch sử như vậy thường là phép thử lớn đối với tư duy chiến lược của các đảng cầm quyền và nhà nước, đồng thời cũng là cơ hội hiếm có để tạo ra những bước nhảy vọt về chất, rút ngắn khoảng cách phát triển nếu biết nắm bắt đúng và kịp thời.

Ở trong nước, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã tích lũy được những tiền đề quan trọng cả về thế và lực. Việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong hơn 5 năm qua đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực: kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng được duy trì trong bối cảnh thế giới nhiều biến động; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân từng bước được cải thiện; quốc phòng, an ninh được giữ vững; công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng chủ động, sâu rộng; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao. Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển cũng bộc lộ không ít hạn chế, thách thức mang tính cơ cấu và dài hạn: mô hình tăng trưởng chậm được đổi mới theo chiều sâu; năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng; khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền còn lớn; yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngày càng đặt ra gay gắt hơn. Những vấn đề đó cho thấy, nếu không có sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy phát triển và phương thức lãnh đạo, đất nước có nguy cơ rơi vào tình trạng phát triển chậm lại, thậm chí tụt hậu trong cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt.

Chính trong bối cảnh đó, Đại hội XIV không chỉ là dịp tổng kết một nhiệm kỳ, mà thực sự là một dấu mốc chiến lược có ý nghĩa lịch sử, nơi Đảng ta hoạch định tầm nhìn phát triển đất nước cho cả một giai đoạn dài hạn, gắn với những mốc son trọng đại của dân tộc: năm 2030 – kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, và năm 2045 – kỷ niệm 100 năm thành lập nước. Những quyết sách được thông qua tại Đại hội XIV vì vậy không chỉ định hướng cho nhiệm kỳ trước mắt, mà còn có ý nghĩa định hình con đường phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, hướng tới mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển, phồn vinh, hạnh phúc, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế.

2. Đại hội XIV – đấu mốc của tư duy phát triển mới: từ tăng trưởng sang “vươn mình” trong kỷ nguyên phát triển bền vững

(Nguồn:https://tayhoa.daklak.gov.vn/ )

Nếu Đại hội XIV được xác định là dấu mốc chiến lược mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước, thì sự đổi mới và nâng tầm tư duy phát triển chính là nội dung cốt lõi, mang tính quyết định của dấu mốc đó. Một trong những điểm nổi bật trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV là sự kế thừa có chọn lọc, đồng thời phát triển sáng tạo tư duy phát triển được xác lập tại Đại hội XIII, thể hiện bước chuyển quan trọng từ tư duy tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang tư duy phát triển bền vững, toàn diện và “vươn mình” về chất.

Từ kết quả thực hiện Văn kiện Đại hội XIII “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”¹. Đây không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là sự khái quát mang tính lý luận về động lực tinh thần – xã hội của phát triển trong bối cảnh mới. Trên nền tảng đó, Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nâng tầm khát vọng phát triển, đặt ra yêu cầu phát triển nhanh nhưng phải bền vững hơn, chất lượng hơn, dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Như vậy, tư duy “vươn mình” được thể hiện trong các văn kiện Đại hội XIV không chỉ là sự nhấn mạnh về khát vọng hay mục tiêu, mà là sự chuyển hóa mang tính chiến lược trong cách tiếp cận phát triển: từ phát triển dựa nhiều vào khai thác nguồn lực sẵn có sang phát triển dựa trên tri thức, sáng tạo và giá trị gia tăng cao; từ chú trọng số lượng sang coi trọng chất lượng; từ tăng trưởng đơn thuần sang phát triển toàn diện, bền vững. Chính sự đổi mới căn bản này tạo nền tảng tư tưởng và phương pháp luận để Đại hội XIV trở thành dấu mốc chiến lược mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước.

3. Sự phát triển về tư duy lý luận của Đảng, hình thành “ Lý luận về đường lối đổi mới” - cẩm namg hành động cách mạng trong giai đoạn mới

Đại hội XIV xác định tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đảng lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; không can thiệp hành chính hóa vào hoạt động của các thiết chế nhà nước và xã hội, mà tập trung lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, định hướng lớn, bằng chủ trương đúng và tổ chức thực hiện hiệu quả. Đây không những là kết quả sự phát triển về tư duy lý luận của Đảng trong giai đoạn mới mà còn hình thành“Lý luận về đường lối đổi mới”. Đảng xác địnhĐổi mới là quá trình biện chứng, toàn diện và liên tục. Trong bài viết: Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!, Tổng Bí thư Tô Lâm đã viết: “Đại hội XIV đã đề ra những chủ trương, giải pháp có tính cách mạng và đột phá nhằm tranh thủ từng cơ hội, vượt qua mọi thách thức. Trong 5 năm tới, chúng ta phải tăng tốc toàn diện trên tất cả các lĩnh vực then chốt: kinh tế phải bứt phá để đạt mức tăng trưởng cao liên tục; khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được thúc đẩy mạnh mẽ để làm động lực cho phát triển; cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh phải tiến hành quyết liệt, thông thoáng để giải phóng mọi nguồn lực xã hội. Đồng thời, các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa cần được quan tâm đầu tư ngang tầm với tăng trưởng kinh tế, bảo đảm phát triển hài hòa, bền vững. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục đặt ra yêu cầu rất cao, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ - những người “thật sự tiêu biểu về phẩm chất, trí tuệ, bản lĩnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó”".[1]

Tóm lại, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa chiến lược trong tiến trình phát triển của đất nước. Trên nền tảng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới và hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Đại hội XIV không chỉ tổng kết chặng đường đã qua, mà còn mở ra tầm nhìn, khát vọng và động lực phát triển mới cho dân tộc trong bối cảnh cục diện thế giới mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 109–110.

[2]  Sđd., tập I, tr. 33–34.

[3]  Sđd., tập II, tr. 218–220.

[4]  Sđd., tập I, tr. 84–85.

[1] https://laodong.vn/thoi-su/tien-len-toan-thang-at-ve-ta-1646261.ldo, truy cập 8 giờ 35 phút ngày 26/01/2026