DƯỚI LÁ CỜ VẺ VANG CỦA ĐẢNG – VỮNG BƯỚC TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN MỚI
DƯỚI LÁ CỜ VẺ VANG CỦA ĐẢNG – VỮNG BƯỚC TIẾN VÀO KỶ NGUYÊN MỚI
ThS. Thạch Trần Thị Cầm - Giảng viên Khoa LLCS
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, mở ra con đường cách mạng đúng đắn vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước từ thân phận nô lệ trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất, cơ đồ, vị thế, tiềm lực, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Trong bối cảnh thế giới và trong nước đang có những biến đổi sâu sắc, đan xen thời cơ và thách thức, việc tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo, sứ mệnh tiên phong của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vững tin, đoàn kết, quyết tâm đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.
1. Hành trình vẻ vang của Đảng – nền tảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh đất nước đang chìm trong bóng tối nô lệ thực dân, phong kiến. Với sự kết hợp sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin phong trào công nhân và phong trào yêu nước, Đảng ra đời đã nhanh chóng trở thành tổ chức chính trị duy nhất có đủ khả năng tập hợp quần chúng nhân dân tiến hành cách mạng. Dưới lá cờ của mình, Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); lãnh đạo dân tộc ta đánh bại thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước sau 30 năm trường kỳ kháng chiến.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đảng ta đã khởi xướng đường lối đổi mới đất nước, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, sau đó là chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được chính thức khẳng định từ Đại hội Đảng lần thứ IX. Đây là bước ngoặt lịch sử, khẳng định vai trò lãnh đạo tiên phong của Đảng trong việc nhận diện và giải quyết mâu thuẫn giữa trình độ phát triển lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất thời kỳ trước đổi mới.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ năm 2008, đất nước ta bước ra khỏi nhóm nước nghèo, kém phát triển. Quy mô nền kinh tế năm 2023 tăng gấp 96 lần so với năm 1986. Đến hiện nay, cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng lên. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 ước đạt trên 510 tỉ USD, gấp 1,47 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số xếp hạng hạnh phúc tăng 33 bậc so với đầu nhiệm kỳ, xếp thứ 46/143 quốc gia.
Như vậy, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trải qua 96 năm thành lập, xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại, dẫn dắt dân tộc đi qua 2 kỷ nguyên: kỷ nguyên giành lại độc lập cho dân tộc và đem lại tự do cho nhân dân; kỷ nguyên tiến hành công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Hành trình vẻ vang của Đảng đã hun đúc nên bản lĩnh chính trị, trí tuệ, uy tín – là nền tảng vững chắc để dẫn dắt đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
2. Vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới dưới sự lãnh đạo của Đảng
Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao.
Để vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của các mục tiêu phát triển chiến lược đến năm 2030, 2045. Với vai trò là hạt nhân chính trị lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam, sứ mệnh quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sứ mệnh tiên phong: tiên phong về lý luận, tiên phong bằng đường lối chính trị, bằng tổ chức, bằng hoạt động lãnh đạo, bằng chức năng cầm quyền của Đảng và tiên phong bằng vai trò, trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên.
Thứ nhất, Đảng tiên phong về lý luận. Trong kỷ nguyên mới với bối cảnh thực tiễn có nhiều thay đổi: “Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”[1]. Trước yêu cầu, nhiệm vụ tình hình mới, Đảng cần tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới. Với phương pháp luận biện chứng duy vật, Đảng cần nghiên cứu tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam trong bốn thập kỷ đổi mới (1986-2026), nghiên cứu thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các nước trên thế giới, cập nhật các thành tựu nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế về lý thuyết phát triển, nhất là hệ thống lý thuyết phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và chiến lược phát triển rút ngắn của các quốc gia.
Tiên phong về lý luận còn có nghĩa là làm giàu kho tàng lý luận bằng quá trình Đảng chủ động kiến tạo tư duy phát triển mới. Tư duy phát triển mới đòi hỏi định hướng sự phát triển của đất nước trong chỉnh thể vận động của khu vực và thế giới; nhận thức sâu sắc sự biến động phức tạp, khó lường của thời đại và xu thế tất yếu của nó để chủ động dự báo đúng xu thế phát triển; đổi mới sáng tạo, thích ứng linh hoạt trước những biến đổi của thực tiễn, kịp thời nhận diện và giải quyết các mâu thuẫn trong phát triển đất nước, chủ động chuyển hóa thách thức, khó khăn thành cơ hội, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển; xác định rõ tầm nhìn chiến lược xuyên suốt cũng như mục tiêu, hình thức và bước đi phù hợp trong mỗi giai đoạn cụ thể. Kiến tạo tư duy phát triển mới cũng đồng thời khắc phục lối tư duy nhiệm kỳ, ngắn hạn, cục bộ, chắp vá, manh mún, bảo đảm thống nhất giữa tính giai đoạn và tính liên tục của tiến trình phát triển.
Thứ hai, Đảng tiên phong về tổ chức. Từ Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta đã xác định đổi mới thể chế là một trong ba “đột phá chiến lược” của chiến lược phát triển quốc gia trong thời kỳ Đổi mới. Tuy nhiên, sau gần 15 năm, thể chế phát triển vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, trong đó, về mặt tổ chức: “Mô hình tổng thể của hệ thống chính trị chưa hoàn thiện; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của tổ chức, cá nhân, người đứng đầu có nội dung chưa rõ; phân cấp, phân quyền chưa mạnh. Mô hình tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị vẫn còn những bất cập, làm cho ranh giới giữa lãnh đạo và quản lý khó phân định, dễ dẫn đến bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng”[2].
Trước tình hình đó, Đảng tiên phong mở đường tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, về tổ chức bằng việc đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền, mà trọng tâm nằm ở hai điểm căn cốt: 1) đổi mới phương thức phân công, bố trí quyền lực trong toàn bộ hệ thống chính trị và 2) đổi mới hệ thống vận hành, quản trị quốc gia theo hướng “tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”. Có thể nói, từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền (tháng 9-1945) đến nay, chưa bao giờ vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng lại được đặt ra ở quy mô, tầm mức và với tinh thần rốt ráo, quyết liệt như hiện nay. Với yêu cầu khẩn trương, quyết liệt với tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, “cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị”[3] đã thể hiện rất rõ ràng quyết tâm chính trị mạnh mẽ, sứ mệnh tiên phong của Đảng trong định hình chiến lược về mặt thể chế và tổ chức bộ máy của Đảng nói riêng, hệ thống chính trị nói chung.
Thứ ba, Đảng tiên phong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng đầy đủ phẩm chất, năng lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Xây dựng Đảng về cán bộ là công việc “then chốt của then chốt”, bởi vì dù đường lối, chính sách có tốt đến đâu mà không có đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng “hiện thực hóa” đường lối, chính sách trong thực tiễn thì đường lối, chính sách cũng không đi vào cuộc sống, không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Và xét đến cùng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do đội ngũ cán bộ các cấp hoạch định, ban hành, thực thi, và do vậy “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”[4]. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu về phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng cao. Đây là những con người phải thực sự có đầy đủ phẩm chất, năng lực thể hiện được sứ mệnh tiên phong, vai trò hạt nhân chính trị của Đảng trong kiến tạo tư duy phát triển, dẫn dắt thể chế, định hình chiến lược, thúc đẩy đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng vươn mình của dân tộc; thực sự tiên phong với trách nhiệm nêu gương trong công việc và trước nhân dân, bởi vì nhân dân nhìn vào Đảng thông qua những lời nói, hành động, việc làm của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên cụ thể. Và do vậy, uy tín của Đảng trước nhân dân, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới đặt nơi tính tiên phong và gương mẫu của mỗi người cán bộ, đảng viên.
Trong thời gian tới, xây dựng Đảng tiên phong về đội ngũ cán bộ, đảng viên phải đồng bộ với quá trình đổi mới tổ chức và gắn với thực thi các nhiệm vụ mới của tổ chức. Nói cách khác, đổi mới công tác cán bộ và đổi mới công tác tổ chức không tách rời nhau. Cần cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy là môi trường để rèn luyện, thử thách cán bộ, thông qua đó mới tạo nên những lớp đội ngũ cán bộ xứng tầm yêu cầu, nhiệm vụ tình hình mới. Nhưng song song đó, cũng cần xây dựng và thực hiện đầy đủ các cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, tạo động lực cho cán bộ có ý chí phấn đấu vươn lên, hoàn thành tốt, xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Tóm lại, trong kỷ nguyên mới, mỗi bước phát triển của đất nước đều gắn chặt với - và đều xuất phát từ việc củng cố và nâng cao tầm nhìn, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới lá cờ tiên phong của Đảng, với niềm tin vững chắc của Nhân dân, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, với tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”, với sự gắn kết chặt chẽ giữa ý Đảng với lòng dân, nhất định Việt Nam sẽ vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
[1] Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
[2] https://dangcongsan.vn/thoi-su/noi-dung-chuyen-de-cua-tong-bi-thu-to-lam-ve-ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-682050.html. Truy cập ngày 20/11/2024.
[3] https://vietnamnet.vn/tong-bi-thu-tap-trung-thuc-hien-thang-loi-cuoc-cach-mang-ve-to-chuc-bo-may-2343629.html. Truy cập ngày 21/11/2024.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.280.
