Nhảy đến nội dung
QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN VÀ LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIAI CẤP – DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN VÀ LÊNIN VỀ QUAN HỆ GIAI CẤP – DÂN TỘC VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Giai cấp và dân tộc là những phạm trù chỉ các quan hệ xã hội khác nhau, có vai trò lịch sử khác nhau và không thể thay thế được nhau. Tuy nhiên, giữa giai cấp và dân tộc lại có mối liên hệ mật thiết, tác động biện chứng qua lại với nhau. Cho đến nay, vấn đề giai cấp, dân tộc, quan hệ giai cấp - dân tộc vẫn là những vấn đề phức tạp, có những diễn biến khó lường, khiến cho tất cả các quốc gia trên thế giới phải quan tâm giải quyết. Là học thuyết về sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng các dân tộc và toàn nhân loại khỏi ảch áp bức, bóc lột, chủ nghĩa Mác-Lênin đã có sự luận giải sâu sắc mối quan hệ giai cấp - dân tộc, trở thành kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động cũng như các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Ở Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đã luôn trung thành cũng như vận đụng một cách sáng tạo, linh hoạt những luận điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin (C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin) về quan hệ giai cấp - dân tộc. Không chỉ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà có thể khẳng định, cho đến hiện nay, quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin về quan hệ giai cấp - dân tộc vẫn có ý nghĩa to lớn đối với việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ này ở nước ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay.

    1. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.LLênin về quan hệ giai cấp - dân tộc

Vai trò của giai cấp đối với dân tộc

Một là, xét đến cùng giai cấp vẫn được biết đến là nhân tố có vai trò quyết định đối với sự hình thành dân tộc, tính chất và xu hướng phát triển của dân tộc. Từ thực tiễn lịch sử, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng minh rằng, dân tộc hình thành khi giai cấp đã hình thành và mỗi dân tộc đều có một giai cấp đứng đầu, giữ vị trí thống trị về mặt kinh tế, do đó, giai cấp ấy cũng thống trị dân tộc. Bên cạnh đó, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ ra: tính chất của dân tộc bị quy định bởi tính chất của phương thức sản xuất thống trị trong dân tộc mà một giai cấp tiêu biểu nắm giữ. Giai cấp tiến bộ hay bảo thủ, cách mạng hay phản động sẽ quyết định tính chất của dân tộc như vậy. Không chỉ quyết định sự hình thành và tính chất của dân tộc, giai cấp còn quyết định cả xu hướng phát triển của dân tộc 

Hai là, áp bức giai cấp là nguyên nhân căn bản, sâu xa của áp bức dân tộc. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mảc-Lênin khẳng định: giai cấp thống trị về kinh tế trong một dân tộc luôn muốn củng cố địa vị kinh tế của mình thông qua việc bóc lột giai cấp khác, đồng thời mở rộng sự ảnh hưởng của mình thông qua áp bức, nô dịch các dân tộc khác. Do đó, các chế độ người áp bức, bóc lột người trong lịch sử thường dẫn đến tình trạng dân tộc này áp bức, bóc lột dân tộc khác. Và điều tất yếu xảy đến là, xã hội có giai cấp thì còn áp bức giai cấp và còn áp bức dân tộc. vấn đề đặt ra ở đây là chỉ có thể xóa bỏ được tình trạng dân tộc này áp bức, bóc lột dân tộc khác khi xóa bỏ được tình trạng giai cấp này áp bức, bóc lột giai cấp khác. Vì thế, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen kêu gọi: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bổ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”­1 . 

Ba là, giai cấp là nhân tố cơ bản, hàng đầu trong phong trào giải phóng dân tộc, cỏ ảnh hưởng mang tính quyết định đối với thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc. Đối với các dân tộc bị áp bức, thực chất của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc chính là việc giải quyết mâu thuẫn của các giai cấp bị áp bức với giai cấp đi áp bức. Bởi vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bị áp bức chỉ có thể thành công khi nó lựa chọn được giai cấp tiến bộ, cách mạng, đủ sức tập hợp lực lượng đông đảo từ quần chúng nhân dân tham gia cách mạng. Khi dân tộc được giải phóng mới tạo điều kiện cho giai cấp được giải phóng, con người được giải phóng.

Vai trò của dân tộc đối với giai cấp

Mặc dù luôn khẳng định vai trò quyết định của giai cấp đối với dân tộc, tuy nhiên, C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin chưa bao giờ coi nhẹ sự tác động trở lại của dân tộc đối với giai cấp. Theo các ông, sự tác động trở lại đó được thể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau:

Một là, dân tộc là địa bàn sinh sống của các giai cấp, nơi diễn ra các quá trình kinh tế - xã hội. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định, không có dân tộc thì giai cấp không thể tồn tại được bởi dân tộc có cộng đồng lãnh thổ - cơ sở sinh tồn của giai cẩp đồng thời dân tộc còn là nơi diễn ra các quá trình kinh tế - xã hội - cơ sở để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của giai cấp.

Hai là, dân tộc là cơ sở của cuộc đấu tranh giai cấp. Xét đến cùng, mọi cuộc đấu tranh giai cấp đều nảy sinh từ mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa các tập đoàn người trong xã hội và mục tiêu của đấu tranh giai cấp chính là để giải quyết những vấn đề lợi ích của các tập đoàn người này. Lợi ích của những tập đoàn người này có quan hệ chặt chẽ với lợi ích dân tộc. Cuộc đấu tranh giai cấp thắng lợi hay thất bại tùy thuộc vào việc lợi ích của nó có phù hợp với lợi ích của dân tộc hay không. Hay diễn đạt theo một cách khác, dân tộc chính là cơ sở của các cuộc đấu tranh giai cấp,

Ba là, dân tộc là cái nôi của các nền văn hóa, nơi nuôi dưỡng tâm hồn, lối sống của các giai cấp. Các giai cấp không thể tồn tại nếu thiếu đi dân tộc và chính văn hóa dân tộc sẽ là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn, lối sống của các giai cấp. Các giai cấp trong cùng một dân tộc bên cạnh những đặc điểm riêng về tính cách, tâm lý, tình cảm... phụ thuộc vào sự khác nhau về địa vị giai cấp, lập trường, hệ tư tưởng và quan hệ lơi ích của các giai cấp... thì mỗi giai cấp sẽ đều mang trong mình những giá trị chung của văn hóa dân tộc - cái làm nên bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc. Bởi vậy, sẽ khó có thể hiểu một cách cặn kẽ về tâm lý, tính cách, lối sống, tình cảm của một giai cấp nếu tách giai cấp ấy ra khỏi nền văn hóa của dân tộc mình.

Bốn là, áp bức dân tộc tác động mạnh mẽ đối với áp bức giai cấp, nó nuôi dưỡng áp bức giai cấp và làm sâu sắc thêm áp bức giai cấp. Áp bức dân tộc thực chất chính là sự áp bức giai cấp - sự áp bức của giai cấp thống trị, phản động của dân tộc này đối với các giai cấp (nhất là giai cấp bị thống trị) của một dân tộc khác. Bởi vậy, nếu áp bức dân tộc còn tồn tại chứng tỏ áp bức giai cấp chưa mất đi. Mặt khác, áp bức dân tộc làm cho áp bức giai cấp trở nên sâu sắc hơn bởi áp bức dân tộc chính là sự phản ánh rõ nét tính chất phản động của giai cấp thống trị trong bản thân dân tộc đi áp bức bởi giai cấp đó không chỉ áp bức giai cấp ở các dân tộc khác mà còn tăng cường sự áp bức đối với giai cấp bị thống trị ở chính dân tộc mình. Cũng chính bởi thế, đấu tranh giải phóng dân tộc là điều kiện để giải phóng giai cấp.

Năm là, phong trào giải phóng dân tộc ảnh hưởng to lớn đến đấu tranh giai cấp. Giải phóng dân tộc thực chất là nhằm xóa bỏ sự áp bức, bóc lột của giai cấp phản động đi đô hộ, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa. Do vậy, khi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa thành công sẽ làm suy yếu chính giai cấp thống trị ở các nước chính quốc. Cũng bởi thế, nhân dân lao động ở chính các nước có giai cấp thống tri phản động và nhân dân các nước thuộc địa có thể liên hiệp lại với nhau để làm cuộc cách mạng lật đổ chính giai cấp thống trị phản động ấy. Sự suy yếu của giai cấp thống trị ở các nước thuộc địa là điều kiện thuận lợi để giai cấp bị trị ở chính quốc tận dụng giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp đang diễn ra hết sức cam go.

So với C.Mác và Ph.Ăngghen, vấn đề này được V.I.Lênin luận giải sâu sắc hơn. Bởi, phải sang đến thời đại của V.I.Lênin, khi “Chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành một hệ thống có tính chất toàn thế giới của một nhóm nhỏ các nước “tiên tiến” đi áp bức thuộc địa và dùng tài chính để bóp nghẹt đại đa số nhân dân trên thế giới”2. Khi cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới mới, hội đủ những điều kiện khách quan để V.LLênin phát triển những luận điểm khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen, từ đó nêu ra những nguyên lý quan trọng về sự kết hợp tất yếu giữa cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong cách mạng vô sản. Vì thế, V.LLênin đã phát triển khẩu hiệu của C.Mác vả Ph.Ảngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản từ “Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại” thành khẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”.

Những luận điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau giữa giai cấp và dân tộc thực sự đúng đắn, khoa học và bộc lộ rõ nét những giá trị của nó khi định hướng cho phong trào cách mạng của giai cấp vô sản trong việc giành và giữ chính quyền. Chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng, giai cẩp vô sản sẽ không thể đánh đổ giai cấp tư sản và thực hiện thành công cuộc cách mạng vô sản nhằm giải phóng con người một cách triệt để nếu như nó không giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc.

2. Ý nghĩa quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về quan hệ giai cấp - dân tộc đối với việc giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam hiện nay

Lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về quan hệ giai cấp - dân tộc luôn là kim chỉ nam soi đường cho Đảng ta trong việc giải quyết môi quan hệ này ở Việt Nam trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc đổi mới hiện nay. Dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin về lý luận quan hệ giai cấp - dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức đuợc mối quan hệ biện chứng này khi cho rằng độc lập dân tộc phải gắn liền với cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vổ sản"3. Tuy nhiên, quá trình nhận thức và vận dụng quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về quan hệ giai cấp - dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta không phải là sự nhận thức máy móc, áp dụng rập khuôn mà là sự nhận thức và vận dụng vô cùng sáng tạo trên cơ sở thực tiễn Việt Nam. Nếu như các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định, trong mối quan hệ giai cấp - dân tộc thì giai cấp luôn giữ vai trò quyết định đối với dân tộc, nhưng ở Việt Nam, tính dân tộc thường nổi trội hơn tính giai cấp. Điều này xuất phát từ sự quy định của lịch sử khi quá trình dựng nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ. 

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cũng vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thi chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”4. Không chỉ là cơ sở để Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giai cấp - dân tộc trong thời kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành lại độc lập cho dân tộc mà quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin về quan hệ giai cấp và dân tộc còn có ý nghĩa to lớn trong việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ này ờ nước ta hiện nay. Cụ thể, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giai cấp - dân tộc ở Việt Nam hiện nay được thể hiện ở những nội đung như sau:

Mội là, trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng ta cũng phải giải quyểt vấn đề giai cấp, lợi ích giai cấp trên cơ sở lợi ích chung của dân tộc và ngược lại lợi ích dân tộc phải được thực hiện dựa trên việc đảm bảo lợi ích của từng giai cấp trong xã hội. Thực chất đó là việc gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”5. Do đó, điều cốt yếu sau khi giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước là phải xây đựng cho được một chế độ xã hội mà ở đó không còn áp bức giai cấp, mọi giai tầng trong xã hội đều được giải phóng, nhân dân đều được hưởng cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Chế độ xã hội ấy, như các nhà kinh điển chủ nghĩa Máe-Lênin đã chỉ ra, chỉ có thể là xã hội cộng sản chủ nghĩa với giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa. 

Hai là, trong quá trình nhận thức và giải quyết quan hệ giai cấp - dân tộc ở nước ta hiện nay trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin phù hợp với nét đặc thù của Việt Nam, càng chú ý thực hiện liên minh giai cấp, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Liên minh giai cấp, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề sống còn của cách mạng Việt Nam không chỉ trong thòi kỳ cách mạng giải phóng dân tộc mà nó còn là nguồn động lực to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tế những năm qua cho thấy, việc thực hiện liên minh giai cấp nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân được Đảng chú trọng thực hiện trên tất cả các lĩnh vực.

Về chính trị, đó là việc thiết lập một nhà nước kiểu mới mang bản chất của giai cấp công nhân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Về kinh tế, đó là việc từng bước xây dựng và hoàn thiện chính sách kinh tể nhiều thành phần tạo cơ hội phát triển cho mọi thành phần kinh tế theo định hướng xă hội chủ nghĩa để đảm bảo huy động tối đa được mọi nguồn lực tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Về văn hóa - xã hội, đó là quá trình xây dựng ý thức xã hội mới, nền văn hóa mới, con người mới ở nước ta hiện nay. Liên minh giai cấp trong lĩnh vực văn hóa xã hội ở đây thực chất là để kế thừa, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đồng thời kế thừa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại góp phần vào xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra nền tảng tinh thần vững chắc cho người Việt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Ba là, quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về quan hệ giai cấp - dân tộc là cơ sờ để Đảng ta nhận thức và giải quyết vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp trong điều kiện Việt Nam hiện nay.

Nhằm phát huy sức mạnh của mọi giai tầng tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu phù hợp với trình độ thấp kém và không đồng đều của lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh ấy, có một số người cho rằng để đảm bảo sự đoàn kết và gắn kết tuyệt đối giữa các giai tầng trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì không nên đặt nặng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nhưng nếu quan niệm như vậy là hoàn toàn không có cơ sở, bởi một lẽ, nhiều thành phần kinh tế còn tồn tại với nhiều hình thức sở hữu tương ứng cũng có nghĩa là vẫn còn tồn tại giai cấp có sự khác nhau về mặt lợi ích và vẫn còn tồn tại sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, lẽ tất nhiên, một khi xã hội còn tồn tại các giai cấp có sự khác nhau ít nhiều về mặt lợi ích thì đấu tranh giai cấp chưa thể bị loại bỏ. Bởi thế, sẽ là ảo tưởng nếu khẳng định xã hội Việt Nam hiện nay không còn mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Tuy nhiên, cũng sẽ là sai lầm nếu như phân chia các giai cấp ở Việt Nam hiện nay thành hai lực lượng đối lập nhau về mặt lợi ích. Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là, phải khẳng định ở Việt Nam hiện nay vẫn còn đấu tranh giai cẩp nhưng nên hiểu đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay thế nào cho đúng. Trên cơ sở vận dụng lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề này, Đảng ta cần có nhận thức mới về giai cấp và đấu tranh giai cấp ở nước ta trong tình hình mới.

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”6 . Đại hội IX của Đảng cũng xác định nội dung mới của cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay, đó là: “Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tinh trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”7. Từ đây, có thể thấy, đấu tranh giai cấp ờ nước ta hiện nay mặc dù mang những nội dung mới nhưng không kém phần cam go và quyết liệt. Thực chất, thắng lợi của cuộc đẩu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay chính là sự thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, một xã hội mà ở đó mọi giai cấp, tầng lớp đều được giải phóng và lợi ích của mỗi giai tầng thống nhất với lợi ích chung của toàn thể dân tộc.

Bốn là, nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế trên cơ sở luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.

Trong quan hệ giữa lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế, Đảng ta luôn đảm bảo việc giải quyết đúng đắn hài hòa trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, đường lối đối ngoại của Đảng cũng luôn khẳng định phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng tối thượng, do đó Đại hội XIII khẳng định: “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tôc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân”8. Điều này có nghĩa là, trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế, lợi ích quốc gia - dân tộc luôn phải được coi là xuất phát điểm, là mục tiêu, là đích hướng tới của mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Tất cả mọi tư tưởng, hành động xem thường lợi ích quốc gia - dân tộc, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc xuống hàng thứ hai so với các lợi ích khác đều đáng bị lên án... Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm đã chứng minh một chân lý rằng: bất cứ khi nào lợi ích quốc gia - dân tộc không được đảm bảo, độc lập, chủ quyền quốc gia bị đe dọa thì chắc chắn lợi ích của từng giai cấp, tầng lớp, từng cá nhân cụ thể trong xã hội cũng không thể được đảm bảo. Đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc trong việc giải quyết quan hệ giữa giai cấp - dân tộc và quốc tế nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chúng ta cổ vũ cho chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi và đi theo nó. Việt Nam luôn là nước đi đầu trong việc chống lại chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chống chủ nghĩa cường quyền, áp đặt cho các dân tộc cái trật tự thế giới phục vụ cho lợi ích của một nước hay một nhóm nước có ưu thế về sức mạnh kinh tế và quân sự. Trong khi đề cao lợi ích của quốc gia - dân tộc, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến “tinh thần quốc tế trong sáng”, đến trách nhiệm của Việt Nam đối với sự phát triển của mọi quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới vi hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. 

Như vậy, có thể thấy, những quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa giai cấp và dân tộc thể hiện qua vai trò của giai cấp đối với dân tộc và vai trò của dân tộc đối với giai cấp có ý nghĩa rất to lớn đối với việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam hiện nay. Vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là trong quá trình nhận thức và vận dụng quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về bất cứ vấn đề gì phải luôn lấy xuất phát điểm là thực tiễn cách mạng Việt Nam trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể để bổ sung và phát triển cho phù hợp. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm giáo điều của một số người khi nói về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam, Người nói “nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”9. Do đó, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin không có nghĩa là “bê nguyên xi” tư tưởng của các ông áp dụng vào thực tiễn Việt Nam, bởi rõ ràng là một quốc gia phương Đông, vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp, quan hệ giai cấp - dân tộc ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với phương Tây, nơi mà các nhà kinh điển nghiên cứu chủ yếu và đề ra lý luận của mình. Trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng của C.Mác, Ph.Ãngghen và V.I.Lênin vào thực tiễn nước mình, đó cũng chính ỉà việc góp phần làm nên sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác-Lênin. 

ThS. Lê Thị Thúy An - Giảng viên khoa Lý luận cơ sở                         

1. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.624.

2. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Tiếnbộ, M.1980, t.27, tr.389.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.12, tr.230.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2000, t.7, tr.113

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.64

 6,7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, tr.85, 86.

 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn guốc lần thứ XIII,Nxb.Chính trị quốc gia, H.2021, tập.1, tr. 153

 9.  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr.312.