KHÔNG MỘT THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ LÀM PHAI NHẠT LÒNG DÂN TA VỚI ĐẢNG TA
KHÔNG MỘT THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ LÀM PHAI NHẠT LÒNG DÂN TA VỚI ĐẢNG TA
ThS Lê Thị Ngọc Nữ - Khoa Lý luận cơ sở
Trong đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, không ít đảng cộng sản hoặc đảng mang danh nghĩa cộng sản tự khẳng định mình là đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Tuy nhiên, trên thực tế, tại nhiều nước, Nhân dân không coi các đảng đó là tổ chức chính trị gắn bó máu thịt với mình, mà chỉ xem đó như một lực lượng chính trị của những người theo đuổi một học thuyết nhất định.
Ở Việt Nam, điều đó hoàn toàn khác. Như một lẽ tự nhiên đã được lịch sử và thực tiễn kiểm nghiệm, Nhân dân ta thuộc mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi lứa tuổi đều gọi Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cái tên thân thương và thiêng liêng: “Đảng ta”. Đó không phải là sự cảm nhận mang tính trực giác hay cảm tính đơn thuần mà là kết quả của một quá trình thấm sâu niềm tin, được hình thành, bồi đắp và củng cố qua thực tiễn cách mạng hơn 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhân dân ta và Đảng ta đã tạo dựng nên một mối quan hệ đặc biệt, bền chặt và sâu sắc - mối quan hệ máu thịt, gắn bó vận mệnh của Đảng với vận mệnh của dân tộc. Cũng giống như cách mà cả dân tộc gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ, coi Bác là của riêng mỗi gia đình Việt Nam, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng là điều thiêng liêng, đồng thời là niềm tự hào lớn lao của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 2025, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta long trọng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trải qua gần một thế kỷ, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta vượt qua muôn vàn thử thách khắc nghiệt, chiến thắng các thế lực xâm lược, giành lại và giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, từng bước xây dựng cơ đồ ngày càng vững chắc, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực sắp xếp lại tổ chức bộ máy, địa giới hành chính, đồng thời bước vào thực hiện những mục tiêu mới đã đặt ra qua Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV– một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, định hướng con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Có thể khẳng định rằng, một tương lai tươi sáng đang mở ra đối với đất nước ta. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động lại ra sức chống phá với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm hiểm. Lợi dụng những biến động phức tạp của tình hình thế giới và những khó khăn nhất định trong quá trình phát triển của đất nước, chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo sự thật, “đổi trắng thay đen” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Những luận điệu sai trái đó tập trung vào việc phủ nhận tính tất yếu lịch sử của vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc, hạ thấp giá trị và ý nghĩa của các thắng lợi cách mạng; thổi phồng, quy chụp tình trạng suy thoái, tham nhũng của một bộ phận cán bộ để từ đó phủ nhận bản chất cách mạng, tiên phong của Đảng. Đây là những mưu đồ nguy hiểm, phản động và phản khoa học, cần được nhận diện rõ ràng và kiên quyết bác bỏ bằng cả cơ sở lý luận và thực tiễn.
1. Sự xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một tất yếu lịch sử
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử của tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường và khát vọng độc lập, tự do. Tuy nhiên, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta vào cuối thế kỷ XIX, do những hạn chế mang tính lịch sử, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã không thể bảo vệ được độc lập dân tộc. Trước tình thế đó, với lòng yêu nước sâu sắc, nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân đã liên tiếp bùng nổ như phong trào Cần Vương, Duy Tân, Đông Du; các cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Yên Bái… Song tất cả đều lần lượt thất bại, chứng tỏ các khuynh hướng cứu nước dựa trên hệ tư tưởng phong kiến và tư sản không đủ sức dẫn dắt dân tộc vượt qua khủng hoảng lịch sử.
Thực tiễn đau xót ấy đặt ra yêu cầu cấp bách phải tìm ra một con đường cứu nước mới, một lực lượng chính trị đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vấn đề đó đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết một cách khoa học và sáng tạo. Trải qua 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã khẳng định con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc Việt Nam là con đường cách mạng vô sản. Bằng việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kết hợp chặt chẽ phong trào công nhân với phong trào yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử, đáp ứng yêu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam và khát vọng cháy bỏng của dân tộc về độc lập, tự do. Từ đây, Nhân dân ta có một lực lượng lãnh đạo duy nhất, thống nhất, đủ năng lực và uy tín để quy tụ, tổ chức và dẫn dắt toàn dân tộc đi tới thắng lợi.
2. Những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trước hết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đúng đắn mục tiêu và con đường phát triển của cách mạng Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây không chỉ là sự lựa chọn mang tính lý tưởng mà còn là kết quả của sự phân tích khoa học về điều kiện lịch sử, yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế của thời đại. Sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ giá trị nền tảng, chi phối toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã giành được những thắng lợi lịch sử mang tầm vóc thời đại: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Đại thắng mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; cùng với đó là những thắng lợi trong bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ... Trong thời kỳ hòa bình, Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đã tạo ra bước ngoặt mang tính lịch sử, đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước phát triển toàn diện, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Từ chỗ thiếu thốn, hằng năm phải nhập lương thực để đảm bảo mức sống tối thiểu, nay nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều mặt hàng nông sản hàng đầu thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi người lại có những nét mới mẻ, tươi vui và sinh động như hôm nay. Đổi mới đã đem đến một sức sống mới cho đất nước, tiếp sức và nâng bước cho đôi chân chúng ta trên con đường hạnh phúc. Đặc biệt, năm 2025 được coi là thời điểm “tăng tốc và bứt phá” để đạt mục tiêu cả nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 ước đạt trên 510 tỉ USD, gấp 1,47 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến tích cực, đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%. Những kết quả đó cho thấy sức bền của nền kinh tế và khả năng thích ứng ngày càng cao trước các cú sốc bên ngoài. Những thành tựu đạt được ở Việt Nam sau gần 40 năm đổi mới có ý nghĩa lịch sử, đúng như khẳng định: đất nước ta “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[1].
3. Kiên quyết xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững niềm tin của Nhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, một bộ phận cán bộ, đảng viên đã có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, điều quan trọng là Đảng không né tránh, không bao che, mà coi đây là nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, từ đó đề ra quyết tâm chính trị rất cao trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Qua nhiều nhiệm kỳ, đặc biệt từ Đại hội XII và XIII của Đảng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, đồng bộ, bài bản, với phương châm không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống các tệ nạn này; các cơ quan chuyên trách được kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động và phát huy hiệu quả. Cùng với những giải pháp quyết liệt trong nước, Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản pháp lý quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước, sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận, hưởng ứng của Nhân dân, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, thoái hóa, biến chất đã đạt được những kết quả tích cực. Ngày 03/8/2024, chủ trì buổi họp báo với sự tham gia của hàng trăm phóng viên trong nước và quốc tế, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: “Thời gian tới, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ tiếp tục được triển khai …”. Nhiều vụ việc nghiêm trọng đã được xử lý nghiêm minh, củng cố niềm tin của Nhân dân, khẳng định bản lĩnh, ý chí và quyết tâm tự làm trong sạch mình của Đảng.
Thực tiễn lịch sử hơn 95 năm cách mạng Việt Nam đã khẳng định một chân lý có sức sống bền bỉ và không thể đảo ngược: vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là sự áp đặt chủ quan, mà là kết quả tất yếu của lịch sử, của lựa chọn đúng đắn phù hợp với quy luật phát triển của dân tộc và thời đại. Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng không hình thành từ khẩu hiệu hay tuyên truyền đơn thuần, mà được hun đúc qua máu xương trong chiến tranh, qua mồ hôi, trí tuệ trong xây dựng và phát triển đất nước, qua những nỗ lực không ngừng của Đảng trong tự đổi mới, tự chỉnh đốn để xứng đáng với vai trò cầm quyền. Chính vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng dù tinh vi đến đâu cũng không thể lay chuyển được mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân. Khi Đảng lấy Nhân dân làm gốc, lấy lợi ích của dân tộc làm mục tiêu tối thượng và không ngừng tự hoàn thiện mình thì lòng dân vẫn một lòng son sắt. Đó là nền tảng chính trị - tinh thần vững chắc bảo đảm cho sự trường tồn của Đảng, cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.I, tr. 104.
